buppou

Tương Ưng Bộ · SN 45.8

Kinh Phân Tích

Vibhaṅgasutta — bài thứ tam

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Phân Tích (Vibhaṅgasutta) là bài quan trọng nhất của phẩm mở đầu — và có lẽ là bài quan trọng nhất của cả Tương Ưng Đạo bên cạnh bài 45.1.

Suốt 180 bài của tương ưng này, "con đường tám nhánh" được nhắc tới hàng trăm lần, nhưng gần như luôn chỉ là tên gọi. Bài 45.8 là chỗ duy nhất trong tương ưng định nghĩa từng nhánh một.

Tám định nghĩa ấy có một đặc điểm đáng chú ý: chúng không cùng một loại:

chánh kiến — hiểu biết bốn sự thật; chánh tư duy — ba hướng suy nghĩ: xuất ly, không sân, không hại; chánh ngữ — bốn điều không nói; chánh nghiệp — ba điều không làm; chánh mạng — cách nuôi sống mình; chánh tinh tấn — bốn nỗ lực với bốn loại pháp; chánh niệm — bốn chỗ quán niệm; chánh định — bốn tầng thiền.

Ba nhánh đầu là cái hiểu và cái nói; ba nhánh sau là cái làm; hai nhánh cuối là cái tâm. Con đường này không phải một danh sách tám việc ngang nhau — nó là một chuỗi có trật tự, nơi mỗi nhánh làm nền cho nhánh sau.

Và hãy để ý câu mở đầu của chánh định: nó dẫn thẳng vào bốn tầng thiền, với công thức đầy đủ. Đây là một trong những bản phân tích thiền định gọn và trọn vẹn nhất trong kinh tạng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.

Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Đạo.

Kinh Phân Tích (Vibhaṅgasutta) — bài thứ tam.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).

"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông con đường tám nhánh cao quý, sẽ phân tích nó.

Hãy nghe và khéo tác ý, ta sẽ nói."

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn", các tỳ-kheo đáp lại.

Đức Thế Tôn nói như vầy:

"Và này các tỳ-kheo, con đường tám nhánh cao quý là gì?

Tức là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.

Và này các tỳ-kheo, chánh kiến là gì?

Đó là: sự hiểu biết về khổ, sự hiểu biết về nguồn gốc của khổ, sự hiểu biết về sự chấm dứt của khổ, sự hiểu biết về con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ —

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh kiến.

Và này các tỳ-kheo, chánh tư duy là gì?

Đó là: tư duy về sự xuất ly, tư duy về không sân hận, tư duy về không làm hại —

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh tư duy.

Và này các tỳ-kheo, chánh ngữ là gì?

Đó là: tránh nói dối, tránh nói lời chia rẽ, tránh nói lời thô ác, tránh nói lời vô ích —

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh ngữ.

Và này các tỳ-kheo, chánh nghiệp là gì?

Đó là: tránh giết hại sinh mạng, tránh lấy của không cho, tránh sống đời sống không phạm hạnh —

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh nghiệp.

Và này các tỳ-kheo, chánh mạng là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, nuôi sống mình bằng chánh mạng —

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh mạng.

Và này các tỳ-kheo, chánh tinh tấn là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, làm cho tâm phấn khởi, để các pháp bất thiện chưa sinh khởi không sinh khởi;

khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, làm cho tâm phấn khởi, để các pháp bất thiện đã sinh khởi được từ bỏ;

khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, làm cho tâm phấn khởi, để các pháp thiện chưa sinh khởi được sinh khởi;

khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, nỗ lực, làm cho tâm phấn khởi, để các pháp thiện đã sinh khởi được đứng vững, không bị quên mất, được lớn thêm, được mở rộng, được tu tập, được sung mãn.

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh tinh tấn.

Và này các tỳ-kheo, chánh niệm là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh niệm.

Và này các tỳ-kheo, chánh định là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ly các dục, ly các pháp bất thiện, chứng và trú thiền thứ nhất — có tầm, có tứ, có hỷ và lạc do ly dục sinh.

Do tầm và tứ lắng xuống, vị ấy chứng và trú thiền thứ hai — nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh.

Do ly hỷ, vị ấy trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, và cảm nhận lạc nơi thân — chứng và trú thiền thứ ba, mà các bậc thánh gọi là "xả, chánh niệm, trú trong lạc".

Do đoạn lạc và đoạn khổ, do hỷ và ưu đã lắng xuống từ trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư — không khổ không lạc, xả và chánh niệm thanh tịnh.

này các tỳ-kheo, đó gọi là chánh định."

Kinh Phân Tích, bài thứ tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →