Tương Ưng Bộ · SN 45.7
Kinh Một Tỳ-kheo (II)
Dutiyaaññatarabhikkhusutta — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Một Tỳ-kheo (II) (Dutiyaaññatarabhikkhusutta) nối tiếp bài trước, nhưng đi xa hơn một bước: bài trước hỏi "phạm hạnh là gì", bài này hỏi tên của chỗ ấy.
Một tỳ-kheo hỏi: "Bạch Thế Tôn, người ta nói 'sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si'. Đó là tên gọi của cái gì?"
Câu trả lời: "Đó là tên gọi của cõi Niết-bàn (nibbānadhātu*)."*
Rồi Đức Thế Tôn thêm một câu rất mạnh, gần như không ai ngờ tới trong một bài ngắn như vậy: "Nhờ đó mà gọi là sự tận diệt các lậu hoặc."
Sau đó vị tỳ-kheo hỏi tiếp về bất tử (amata), và lại được trả lời bằng đúng ba chữ ấy — tận diệt tham, sân, si — rồi: con đường đi đến bất tử là con đường tám nhánh.
Ba bài 45.6, 45.7 nối nhau thành một chuỗi định nghĩa: phạm hạnh → chỗ kết thúc của phạm hạnh → tên của chỗ ấy là Niết-bàn → và Niết-bàn ấy cũng gọi là bất tử. Cùng một việc, bốn cái tên.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Đạo.
Kinh Một Tỳ-kheo (II) (Dutiyaaññatarabhikkhusutta) — bài thứ bảy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Rồi một tỳ-kheo nọ đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tỳ-kheo ấy bạch với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si'.
Bạch Thế Tôn, đó là tên gọi của cái gì:
'sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si'?"
"Này tỳ-kheo, đó là tên gọi của cõi Niết-bàn:
'sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si'.
Nhờ đó mà gọi là sự tận diệt các lậu hoặc."
Khi nghe vậy, tỳ-kheo ấy bạch với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'bất tử, bất tử'.
Bạch Thế Tôn, bất tử là gì, và con đường đi đến bất tử là gì?"
"Này tỳ-kheo, sự tận diệt tham, sự tận diệt sân, sự tận diệt si —
đó gọi là bất tử.
Và chính con đường tám nhánh cao quý này là con đường đi đến bất tử, tức là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định."
Kinh Một Tỳ-kheo (II), bài thứ bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.