buppou

Tương Ưng Bộ · SN 23.14

Kinh Pháp Vô Thường

Aniccadhammasutta — bài thứ mười bốn

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này hỏi một chữ: pháp vô thường (aniccadhammā).

Bạch Đức Thế Tôn, pháp vô thường là gì?

Câu trả lời luôn cùng một khuôn: sắc là pháp vô thường, thọ là pháp vô thường, tưởng là pháp vô thường, hành là pháp vô thường, thức là pháp vô thường. Rồi công thức quen thuộc — nhàm chán, ly tham, giải thoát, tuệ khởi lên: đã giải thoát.

Nghĩa của chữ ấy: thứ có bản chất là sinh rồi diệt.

Cặp vô thường và pháp vô thường khác nhau ở chỗ: một cái là tính chất, một cái là thứ mang tính chất ấy. Bộ kinh dùng cả hai, không lẫn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rādha (Rādhasaṃyutta), tương ưng thứ 23.

Phẩm Ma (Hai) (Dutiyamāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rādha.

Kinh Pháp Vô Thường (Aniccadhammasutta) — bài thứ mười bốn.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, người ta nói pháp vô thường, pháp vô thường.

Bạch Đức Thế Tôn, pháp vô thường là gì?

Này Rādha, sắc là pháp vô thường, thọ là pháp vô thường, tưởng là pháp vô thường, hành là pháp vô thường, thức là pháp vô thường.

Thấy như vậy, này Rādha, bậc thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán nơi sắc, nhàm chán nơi thọ, nhàm chán nơi tưởng, nhàm chán nơi hành, nhàm chán nơi thức. Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, tuệ khởi lên: đã giải thoát.

Vị ấy biết: sinh đã tận, phạm hạnh đã sống xong, điều cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ bốn.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →