Tương Ưng Bộ · SN 45.46
Kinh Quả Minh Giải Thoát
Vijjāvimuttiphalasutta — bài thứ bốn mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Quả Minh Giải Thoát (Vijjāvimuttiphalasutta) là bài thứ năm, và nó chuyển từ cái bị diệt sang cái được chứng.
Hai chữ trong tên bài:
vijjā — "minh", cái biết sáng, đối lại với vô minh; vimutti — "giải thoát", sự buông ra khỏi.
Và phala — "quả": không phải "tu để được minh và giải thoát", mà "tu để chứng quả minh và giải thoát" — tức là để hai cái ấy thành quả đã chín, không còn là điều đang nhắm tới.
Bài này là mắt xích nối giữa chuỗi "diệt" (kiết sử, khuynh hướng, lậu hoặc) và chuỗi "biết" (tri kiến, bài sau). Sau khi những thứ che mờ đã cạn, cái còn lại là minh — nhưng minh ấy không phải thứ được thêm vào, mà là thứ hiện ra khi không còn gì che.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Các Ngoại Đạo (Aññatitthiyapeyyālavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Đạo.
Kinh Quả Minh Giải Thoát (Vijjāvimuttiphalasutta) — bài thứ bốn mươi sáu.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).
"Này các tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông như vầy:
'Vì mục đích gì, này các bạn, mà người ta sống đời sống phạm hạnh dưới sa-môn Gotama?' — thì này các tỳ-kheo, được hỏi vậy, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vầy:
'Vì mục đích sự chứng quả minh giải thoát, này các bạn, mà người ta sống đời sống phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn.'
Và này các tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo lại hỏi các ông như vầy:
'Vậy này các bạn, có con đường nào, có cách thực hành nào để sự chứng quả minh giải thoát không?' — thì này các tỳ-kheo, được hỏi vậy, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vầy:
'Có, này các bạn, có con đường, có cách thực hành để sự chứng quả minh giải thoát.'
Và này các tỳ-kheo, con đường ấy là gì, cách thực hành ấy là gì để sự chứng quả minh giải thoát?
Chính là con đường tám nhánh cao quý, tức là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này các tỳ-kheo, đó là con đường, đó là cách thực hành để sự chứng quả minh giải thoát.
Được hỏi vậy, này các tỳ-kheo, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy."
Kinh Quả Minh Giải Thoát, bài thứ bốn mươi sáu, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.