Tương Ưng Bộ · SN 45.47
Kinh Tri Kiến
Ñāṇadassanasutta — bài thứ bốn mươi bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Tri Kiến (Ñāṇadassanasutta) khép nhóm sáu bằng mục đích ngắn nhất và cũng khó nhất: ñāṇadassana, "tri kiến" — cái biết và cái thấy.
Hai chữ ghép lại: ñāṇa (cái biết) và dassana (cái thấy). Người Việt quen với cụm "tri kiến" qua kinh Hoa Nghiêm hay Bát-nhã; ở đây nó có nghĩa rất cụ thể: biết đúng và thấy đúng như nó đang là, không qua khái niệm.
Câu hỏi đáng đặt ra: nếu "tri kiến" là mục đích, thì nó khác gì "hiểu biết"? Khác ở chữ dassana: cái thấy là trực tiếp, không qua suy luận. Người ta có thể hiểu một điều mà chưa thấy nó.
Và cũng như bảy bài trước: để có tri kiến ấy, con đường là tám nhánh — kể cả chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Điều này nghe lạ, nhưng nó là một lời nhắc: cái thấy không đến từ việc ngồi suy nghĩ, mà từ một đời sống được sửa từng chỗ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Các Ngoại Đạo (Aññatitthiyapeyyālavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Đạo.
Kinh Tri Kiến (Ñāṇadassanasutta) — bài thứ bốn mươi bảy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).
"Này các tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông như vầy:
'Vì mục đích gì, này các bạn, mà người ta sống đời sống phạm hạnh dưới sa-môn Gotama?' — thì này các tỳ-kheo, được hỏi vậy, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vầy:
'Vì mục đích tri kiến, này các bạn, mà người ta sống đời sống phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn.'
Và này các tỳ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo lại hỏi các ông như vầy:
'Vậy này các bạn, có con đường nào, có cách thực hành nào để tri kiến không?' — thì này các tỳ-kheo, được hỏi vậy, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vầy:
'Có, này các bạn, có con đường, có cách thực hành để tri kiến.'
Và này các tỳ-kheo, con đường ấy là gì, cách thực hành ấy là gì để tri kiến?
Chính là con đường tám nhánh cao quý, tức là:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Này các tỳ-kheo, đó là con đường, đó là cách thực hành để tri kiến.
Được hỏi vậy, này các tỳ-kheo, các ông hãy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy."
Kinh Tri Kiến, bài thứ bốn mươi bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.