Tương Ưng Bộ · SN 22.92
Kinh Rāhula (II)
Dutiyarāhulasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Rāhula (II) (Dutiyarāhulasutta) đổi một chút trong câu hỏi: lần này Rāhula hỏi làm sao để tâm được thoát khỏi ngã mạn, chứ không chỉ là "không còn dựng lên".
Bạch Thế Tôn, phải biết và thấy thế nào để tâm được thoát khỏi sự dựng lên "tôi", sự dựng lên "của tôi", và ngã mạn đối với thân có thức này và đối với mọi dấu hiệu bên ngoài?
Cùng công thức, cùng năm uẩn, nhưng tiêu chí là giải thoát — tâm không còn bị trói bởi cái nó đã thấy rõ.
Và đây là bài cuối phẩm, nên có thêm bài kệ tóm tắt mười vị: Ānanda, Tissa, Yamaka, Anurādha, Vakkali, Assaji, Khemaka, Channa, và hai bài Rāhula.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Các Bậc Trưởng Lão (Theravagga) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Rāhula (II) (Dutiyarāhulasutta) — bài thứ mười.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
Bấy giờ Tôn giả Rāhula ngồi xuống một bên và bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, phải biết và thấy thế nào để tâm được thoát khỏi sự dựng lên 'tôi', sự dựng lên 'của tôi', và ngã mạn đối với thân có thức này và đối với mọi dấu hiệu bên ngoài?"
"Này Rāhula, sắc gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy sắc ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
thọ gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy thọ ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
tưởng gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy tưởng ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
các hành gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy các hành ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
thức gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy thức ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Đó là cách biết và thấy để tâm được thoát khỏi sự dựng lên 'tôi', sự dựng lên 'của tôi', và ngã mạn đối với thân có thức này và đối với mọi dấu hiệu bên ngoài."
Kinh Rāhula (II), bài thứ mười, đến đây là hết.
Phẩm Các Bậc Trưởng Lão, phẩm thứ tư của Phần Năm Mươi Giữa, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Ānanda, Tissa, Yamaka,
Anurādha và Vakkali;
Assaji, Khemaka, Channa,
và hai bài Rāhula nữa.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.