buppou

Tương Ưng Bộ · SN 52.5

Kinh Sāketa Thứ Hai

Dutiyasāketasutta — bài thứ năm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm là bài thứ tư với một từ đổi chỗ: từ còn đang học sang đã hết học.

Này hiền giả Sāriputta, một tỳ-kheo đã hết học nên chứng đạt và an trú bốn niệm xứ ấy.

Sự đối xứng ấy có thể làm người đọc thấy nhàm. Nhưng nếu đọc chậm, nó nói một điều khá lạ: bậc A-la-hán không chuyển sang một pháp khác. Ngài tiếp tục làm điều mình đã làm từ đầu, chỉ khác là không còn gì để làm thêm.

Trong nhiều truyền thống, giai đoạn cuối được mô tả bằng một cái gì mới. Ở đây, nó được mô tả bằng sự tiếp tục.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Anuruddha (Anuruddhasaṃyutta), tương ưng thứ 52.

Phẩm Viễn Ly (Rahogatavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Anuruddha.

Kinh Sāketa Thứ Hai (Dutiyasāketasutta) — bài thứ năm.


"Tại Sāketa.

Ngồi một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Anuruddha:

Này hiền giả Anuruddha, một tỳ-kheo đã hết học nên chứng đạt và an trú những pháp nào?

Này hiền giả Sāriputta, một tỳ-kheo đã hết học nên chứng đạt và an trú bốn niệm xứ.

Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này hiền giả, một tỳ-kheo vị ấy sống quán thân trong thân, quán thọ trong các thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã trừ bỏ tham và ưu ở đời trong thân.

Vị ấy vị ấy sống quán thân trong thân, quán thọ trong các thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã trừ bỏ tham và ưu ở đời trong các thọ.

Vị ấy vị ấy sống quán thân trong thân, quán thọ trong các thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã trừ bỏ tham và ưu ở đời trong tâm.

Vị ấy vị ấy sống quán thân trong thân, quán thọ trong các thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, sau khi đã trừ bỏ tham và ưu ở đời trong các pháp.

Này hiền giả Sāriputta, một tỳ-kheo đã hết học nên chứng đạt và an trú bốn niệm xứ ấy."

Bài thứ năm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →