Tương Ưng Bộ · SN 49.9
Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Biển
Tatiyasamuddaninnasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này thuộc phẩm Gaṅgā — phẩm mở đầu của Tương Ưng Chánh Cần, gồm mười hai bài mà mỗi bài là một hình ảnh về dòng nước chảy về một phía.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển.
Có một sự tương phản đáng chú ý giữa hình ảnh và lời kết. Hình ảnh là một thứ rất lớn — một dòng sông, một cái cây, cả bầu trời. Lời kết lại rất nhỏ: một người ngồi xuống và bắt đầu chú ý đến điều mình đang làm.
Bài này trở lại sông Aciravatī, với hướng chảy về biển.
Đến đây thì hình ảnh đã làm xong phần việc của nó, và phần còn lại thuộc về người đọc.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.
Phẩm Thứ Nhất (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Chánh Cần.
Kinh Sông Aciravatī Nghiêng Về Biển (Tatiyasamuddaninnasutta) — bài thứ chín.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Aciravatī nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển;
cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Bài thứ chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.