Tương Ưng Bộ · SN 49.10
Kinh Sông Sarabhū Nghiêng Về Biển
Catutthasamuddaninnasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Mười hai bài ấy chia làm hai nửa: sáu bài nói về dòng sông nghiêng về phía đông, sáu bài nói về dòng sông nghiêng về biển.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Sarabhū nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển.
Nhiều người đọc tương ưng này sẽ thấy nó nhàm. Mười hai bài giống nhau, rồi mười bài giống nhau, rồi mười hai bài nữa. Nhưng đó là điều kinh muốn: một pháp chỉ đi vào được khi nó được nghe đủ nhiều lần để không còn là một ý tưởng mới.
Bài này trở lại sông Sarabhū, với hướng chảy về biển.
Kinh dừng ở chỗ mà phần lớn người ta sẽ muốn hỏi thêm. Đó là chỗ dừng có chủ ý.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.
Phẩm Thứ Nhất (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Chánh Cần.
Kinh Sông Sarabhū Nghiêng Về Biển (Catutthasamuddaninnasutta) — bài thứ mười.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, ví như sông Sarabhū nghiêng về biển, xuôi về biển, chảy về biển;
cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?
Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.
Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."
Bài thứ mười.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.