buppou

Tương Ưng Bộ · SN 51.37

Kinh Sông Mahī Nghiêng Về Phía Đông

Pañcamapācīnaninnasutta — bài thứ ba mươi bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Gaṅgā — mười hai bài mở đầu phần peyyāla, nơi mọi thứ được rút lại thành những hình ảnh về dòng nước chảy về một phía.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Mahī nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông.

Chữ iddhi trong tiếng Pali nghĩa hẹp là thần thông, nghĩa rộng là sự thành tựu. Cả hai nghĩa đều có mặt trong tương ưng này, và chỗ nào dùng nghĩa nào thì phải tự đọc mà phân biệt.

Bài này mở bằng sông Mahī — dòng sông cuối trong nhóm năm dòng sông lớn.

Một lần nữa, cùng một việc, cùng một câu. Sự lặp lại chính là lời dạy.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.

Phẩm Thứ Tư (Gaṅgāpeyyālavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Thần Túc.

Kinh Sông Mahī Nghiêng Về Phía Đông (Pañcamapācīnaninnasutta) — bài thứ ba mươi bảy.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, ví như sông Mahī nghiêng về phía đông, xuôi về phía đông, chảy về phía đông;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo tu tập bốn thần túc, thực hành nhiều bốn thần túc thì hướng đến niết-bàn, xuôi về niết-bàn, chảy về niết-bàn."

Bài thứ ba mươi bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →