Tương Ưng Bộ · SN 45.149
Kinh Sức Mạnh
Balasutta — bài thứ một trăm bốn mươi chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sức Mạnh (Balasutta) mở phẩm thứ mười hai — Balakaraṇīyapeyyālavagga, "phẩm tóm tắt về những công việc cần sức mạnh".
Ẩn dụ mở đầu rất cụ thể:
Này các tỳ-kheo, những công việc cần đến sức lực, tất cả đều được làm dựa trên đất, đứng trên đất — và nhờ vậy chúng thành tựu.
Rồi câu chuyển: cũng vậy, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới mà tu tập con đường tám nhánh.
Chữ nissāya ("dựa vào") ở đây là chữ khóa của cả phẩm. Giới không phải một bước trước con đường, cũng không phải một kết quả sau con đường; nó là mặt đất — thứ mà người ta không nhìn thấy khi đang làm việc, nhưng thiếu nó thì không có gì đứng được.
Bốn phần của bài là bốn cách mô tả việc tu tập ấy, y như bài 45.139: dựa trên xa lìa, hướng đến dứt trừ tham sân si, lấy bất tử làm chỗ nhập, nghiêng về niết-bàn.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 45.
Phẩm Việc Cần Sức Mạnh (Balakaraṇīyapeyyālavagga) — phẩm thứ mười hai của Tương Ưng Đạo.
Kinh Sức Mạnh (Balasutta) — bài thứ một trăm bốn mươi chín.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ).
"Này các tỳ-kheo, những công việc cần đến sức mạnh, tất cả đều được làm dựa trên đất, đứng trên đất — và nhờ vậy chúng thành tựu.
"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh tư duy — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh ngữ — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh nghiệp — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh mạng — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh tinh tấn — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh niệm — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ, tu chánh định — dựa trên sự xa lìa, dựa trên ly tham, dựa trên chấm dứt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
[Chú thích: bản Pali ghi “những bài còn lại nên được khai triển đầy đủ theo phẩm Gaṅgā” — nghĩa là mỗi bài trong phẩm đều có thể đọc theo bốn cách như bài này.]
"Này các tỳ-kheo, những công việc cần đến sức mạnh, tất cả đều được làm dựa trên đất, đứng trên đất — và nhờ vậy chúng thành tựu.
"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tư duy — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh ngữ — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh nghiệp — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh mạng — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh tinh tấn — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh niệm — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si, tu chánh định — hướng đến sự dứt trừ tham, dứt trừ sân, dứt trừ si.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
"Này các tỳ-kheo, những công việc cần đến sức mạnh, tất cả đều được làm dựa trên đất, đứng trên đất — và nhờ vậy chúng thành tựu.
"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh tư duy — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh ngữ — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh nghiệp — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh mạng — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh tinh tấn — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh niệm — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh, tu chánh định — lấy bất tử làm chỗ nhập, lấy bất tử làm nơi đến, lấy bất tử làm cứu cánh.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
"Này các tỳ-kheo, những công việc cần đến sức mạnh, tất cả đều được làm dựa trên đất, đứng trên đất — và nhờ vậy chúng thành tựu.
"Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu chánh kiến — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tư duy — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh ngữ — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh nghiệp — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh mạng — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh tinh tấn — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh niệm — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn, tu chánh định — nghiêng về niết-bàn, dốc về niết-bàn, chảy về niết-bàn.
Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu con đường tám nhánh cao quý, làm cho nó sung mãn."
Kinh Sức Mạnh, bài thứ một trăm bốn mươi chín, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.