Tương Ưng Bộ · SN 46.26
Kinh Tận Diệt Ái
Taṇhakkhayasutta — bài thứ hai mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phẩm thứ ba, mười bài, phần lớn là những câu hỏi ngắn và những câu trả lời ngắn.
Con đường đưa đến sự tận diệt ái chính là bảy giác chi.
Cách trình bày ở đây rất tiết kiệm: một hình ảnh, một câu hỏi, một câu trả lời, hết.
Bài này tên là Kinh Tận Diệt Ái. Đây là bài thứ hai mươi sáu trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Udāyī.
Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Udāyī (Udāyivagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Tận Diệt Ái (Taṇhakkhayasutta) — bài thứ hai mươi sáu.
"Này các tỳ-kheo, con đường nào, lối đi nào đưa đến sự tận diệt ái, hãy tu tập con đường ấy, lối đi ấy.
Và này các tỳ-kheo, con đường nào, lối đi nào đưa đến sự tận diệt ái?
Đó là —
bảy giác chi.
Bảy ấy là gì?
niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
Khi nghe vậy, Tôn giả Udāyī thưa với Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, bảy giác chi được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì đưa đến sự tận diệt ái?
Này Udāyī, ở đây vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ, rộng lớn, to rộng, vô lượng, không sân hận.
Đối với vị ấy đang tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ, rộng lớn, to rộng, vô lượng, không sân hận, thì ái được đoạn trừ.
Do đoạn trừ ái, nghiệp được đoạn trừ.
Do đoạn trừ nghiệp, khổ được đoạn trừ.
Vị ấy tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ, rộng lớn, to rộng, vô lượng, không sân hận.
Đối với vị ấy đang tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ, rộng lớn, to rộng, vô lượng, không sân hận, thì ái được đoạn trừ;
do đoạn trừ ái, nghiệp được đoạn trừ;
do đoạn trừ nghiệp, khổ được đoạn trừ.
Như vậy, này Udāyī, do tận diệt ái mà nghiệp được tận diệt; do tận diệt nghiệp mà khổ được tận diệt."
Bài thứ hai mươi sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.