Tương Ưng Bộ · SN 46.27
Kinh Diệt Ái
Taṇhānirodhasutta — bài thứ hai mươi bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Từ đây, tương ưng bắt đầu đi vào những định nghĩa.
Con đường đưa đến sự diệt ái chính là bảy giác chi.
Bài kinh không giải thích vì sao, chỉ nói rằng đúng là như vậy.
Bài này tên là Kinh Diệt Ái. Đây là bài thứ hai mươi bảy trong một trăm tám mươi bốn bài của tương ưng, nằm ở Phẩm Udāyī.
Cái đáng chú ý ở đây không phải nội dung mà là chỗ nội dung ấy được lặp lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Udāyī (Udāyivagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Diệt Ái (Taṇhānirodhasutta) — bài thứ hai mươi bảy.
"Này các tỳ-kheo, con đường nào, lối đi nào đưa đến sự diệt ái, hãy tu tập con đường ấy, lối đi ấy.
Và này các tỳ-kheo, con đường nào, lối đi nào đưa đến sự diệt ái?
Đó là —
bảy giác chi.
Bảy ấy là gì?
niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
Và này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì đưa đến sự diệt ái?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Như vậy, này các tỳ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì đưa đến sự diệt ái."
Bài thứ hai mươi bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.