Tương Ưng Bộ · SN 22.32
Kinh Tan Rã
Pabhaṅgusutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Tan Rã (Pabhaṅgusutta) khép phẩm bằng một cặp từ khó dịch nhất phẩm: pabhaṅgu — cái dễ vỡ, cái hay tan — và apabhaṅgu — cái không tan.
Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về cái hay tan và cái không tan.
Câu trả lời: sắc, thọ, tưởng, các hành, thức là cái hay tan. Còn sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của chúng là cái không tan.
Đây là câu trả lời rất đáng chú ý, vì nó không nói "niết-bàn là một chỗ khác". Nó nói: cái không tan chính là sự chấm dứt của cái tan — không phải một vật thứ sáu đứng ngoài năm uẩn, mà là chỗ năm uẩn ấy lặng đi.
Và đây cũng là bài học của cả phẩm Gánh Nặng: cái gánh (năm uẩn) thì dễ vỡ; việc đặt gánh xuống thì không. Mười bài trước đã chỉ ra cái gánh, kẻ mang, cách nhấc, cách đặt — bài cuối cùng chỉ còn nói: cái được gọi là không tan nằm ngay ở chỗ đặt xuống, không ở đâu khác.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Gánh Nặng (Bhāravagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Tan Rã (Pabhaṅgusutta) — bài thứ mười một.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về cái hay tan và cái không tan.
Hãy nghe.
Và này các tỳ-kheo, thế nào là cái hay tan, thế nào là cái không tan?
Sắc là cái hay tan,
nhưng sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của sắc là cái không tan.
Thọ là cái hay tan,
nhưng sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của thọ là cái không tan.
Tưởng là cái hay tan,
nhưng sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của tưởng là cái không tan.
Các hành là cái hay tan,
nhưng sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của các hành là cái không tan.
Thức là cái hay tan,
nhưng sự chấm dứt, sự lắng xuống, sự biến mất của thức là cái không tan."
Kinh Tan Rã, bài thứ mười một, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Gánh nặng, hiểu rõ, thắng tri,
tham và dục là bài thứ tư;
ba bài vị ngọt được nói đến,
hoan hỷ là bài thứ tám;
sinh khởi và gốc rễ của khổ,
bài thứ mười một là tan rã.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.