buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.31

Kinh Gốc Rễ của Khổ

Aghamūlasutta — bài thứ mười

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Gốc Rễ của Khổ (Aghamūlasutta) đặt hai chữ cạnh nhau: agha — cái khổ, cái khó chịu, cái rối — và gốc rễ của nó.

Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về cái khổ và gốc rễ của cái khổ.

Cái khổ, kinh định nghĩa thẳng: năm uẩn — sắc, thọ, tưởng, các hành, thức. Gốc rễ: ái, cái đưa đến tái sinh, đi cùng hỷ và tham, vui thích chỗ này chỗ kia — ái dục, ái hữu, ái phi hữu.

Cách định nghĩa này có một hệ quả lạ mà đáng để ý: cái khổ không phải là một sự kiện xảy đến với năm uẩn, nó chính là năm uẩn. Và gốc rễ không nằm trong hoàn cảnh, mà nằm ở chỗ tâm đang muốn có, muốn là, muốn không là.

Chữ agha trong tiếng Pali cũng mang nghĩa "cái không trong sạch, cái đáng sợ". Nên tựa bài có thể đọc là: cái rối ren, và chỗ nó mọc lên.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Gánh Nặng (Bhāravagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Gốc Rễ của Khổ (Aghamūlasutta) — bài thứ mười.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, ta sẽ giảng cho các ông về cái khổ và gốc rễ của cái khổ.

Hãy nghe.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là cái khổ?

Sắc, thọ, tưởng, các hành, thức — đó là cái khổ.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là cái khổ.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là gốc rễ của cái khổ?

Đó là ái — cái đưa đến tái sinh, đi cùng với hỷ và tham, vui thích chỗ này chỗ kia, tức là:

ái dục, ái hữu, ái phi hữu.

Này các tỳ-kheo, đây gọi là gốc rễ của cái khổ."

Kinh Gốc Rễ của Khổ, bài thứ mười, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →