buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.65

Kinh Thích Thú

Abhinandamānasutta — bài thứ ba

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Phẩm A-la-hán

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm A-la-hán (Arahantavagga) — phẩm thứ bảy của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Thích Thú (Abhinandamānasutta) — bài thứ ba.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

Bấy giờ một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên.

"Bạch Thế Tôn, lành thay, xin Đức Thế Tôn dạy con pháp vắn tắt. Nghe xong, con sẽ sống một mình, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm, kiên trì."

"thích thú thì bị Ma trói buộc, này tỳ-kheo.

Không thích thú thì được thoát khỏi Ác ma."

"Đã hiểu, bạch Thế Tôn! Đã hiểu, bạch Thiện Thệ!"

"Nhưng này tỳ-kheo, ông hiểu ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt ấy thế nào?"

"Bạch Thế Tôn, khi thích thú sắc, con bị Ma trói buộc.

Không thích thú thì được thoát khỏi Ác ma.

Khi thích thú thọ, con bị Ma trói buộc.

Khi thích thú tưởng, con bị Ma trói buộc.

Khi thích thú các hành, con bị Ma trói buộc.

Khi thích thú thức, con bị Ma trói buộc.

Không thích thú thì được thoát khỏi Ác ma.

Đó là cách con hiểu ý nghĩa chi tiết của lời Đức Thế Tôn dạy vắn tắt."

"Lành thay, lành thay, này tỳ-kheo!

Lành thay, ông đã hiểu ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt như vậy.

Khi thích thú sắc, này tỳ-kheo, ông bị Ma trói buộc.

Không thích thú thì được thoát khỏi Ác ma.

Khi thích thú thọ, ông bị Ma trói buộc.

Khi thích thú tưởng, ông bị Ma trói buộc.

Khi thích thú các hành, ông bị Ma trói buộc.

Khi thích thú thức, ông bị Ma trói buộc.

Không thích thú thì được thoát khỏi Ác ma.

Đó là cách để thấy ý nghĩa chi tiết của lời ta dạy vắn tắt."

Rồi vị tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, và sau đó sống một mình, viễn ly, tinh cần, nhiệt tâm, kiên trì, không bao lâu sau tự mình chứng ngộ và trở thành một trong những bậc a-la-hán.

Kinh Thích Thú, bài thứ ba, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →