buppou

Tương Ưng Bộ · SN 51.86

Kinh Thượng Phần Kiết Sử

Uddhambhāgiyasutta — bài thứ tám mươi sáu

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Bộc Lưu — mười bài cuối của tương ưng, và cũng là những bài nặng nhất.

Này các tỳ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này.

Tương ưng này gần như không định nghĩa gì. Nó giả định người đọc đã biết bốn thần túc là gì, rồi dùng chúng như một đơn vị để đo mọi thứ khác.

Bài này là một cuộc đối thoại giữa Đức Thế Tôn và Tôn giả Ānanda về một chuyện rất cụ thể: Ngài có nhớ mình đã đi đến cõi Phạm thiên bằng thân do ý tạo ra, và bằng chính thân bốn đại này. Câu trả lời là có, cả hai. Rồi kinh so sánh thân ấy với một cục sắt nung nóng cả ngày, và với một nắm bông vải nhẹ.

Đó là toàn bộ bài kinh — và cũng là toàn bộ điều nó muốn nhắc.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thần Túc (Iddhipādasaṃyutta), tương ưng thứ 51.

Phẩm Thứ Tám (Oghavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Thần Túc.

Kinh Thượng Phần Kiết Sử (Uddhambhāgiyasutta) — bài thứ tám mươi sáu.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có năm thượng phần kiết sử này.

Năm ấy là gì?

Sắc tham, vô sắc tham, ngã mạn, trạo cử, vô minh —

đó là năm thượng phần kiết sử.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ năm thượng phần kiết sử ấy, bốn thần túc cần được tu tập.

Bốn ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập thần túc có định nhờ ước muốn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tinh tấn, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ tâm, cùng với các hành tinh cần,

vị ấy tu tập thần túc có định nhờ quán sát, cùng với các hành tinh cần.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ năm thượng phần kiết sử ấy, bốn thần túc này cần được tu tập.

Bài thứ tám mươi sáu.

Phẩm Bộc Lưu, phẩm thứ tám.

[Chú thích: Bản Pali ghi phẩm Bộc Lưu nên được khai triển theo bốn thần túc, y như Tương Ưng Đạo.]"

Tóm tắt phẩm này:

Bộc lưu, ách, thủ,

triền, và tùy miên;

dục công đức, triền cái,

thủ uẩn, hạ phần và thượng phần kiết sử.

Hết Tương Ưng Thần Túc, tương ưng thứ bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →