Tương Ưng Bộ · SN 12.196
Kinh Tỉnh Giác về Ái
Sampajaññasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Tỉnh Giác về Ái là bài thứ một trăm chín mươi sáu của Tương Ưng Nhân Duyên, và là bài thứ năm trong nhóm mười một bài lấy tỉnh giác làm pháp.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết ái, không thấy ái như thật, để có sự hiểu biết như thật về ái, thì cần phải tỉnh giác."
Ái là chữ gốc nghĩa là khát nước. Người khát không chọn mình khát; cơn khát đến trước, rồi nó chỉ cho người ta thấy chỗ có nước. Đó là toàn bộ cấu trúc của chiếc này: ái không phải "muốn nhiều", mà là một cơn khát tự động chỉ điểm.
Hai chữ ấy thường đi cùng, và trong kinh chúng gần như không tách rời.
Trong mười một bài của nhóm, bài này chỉ khác những bài kia đúng một chữ. Đó là cách rẻ nhất để nói rằng: pháp này áp được cho mọi chỗ, không trừ chỗ nào.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Antarapeyyāla (Antarapeyyāla) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Tỉnh Giác về Ái (Sampajaññasutta) — bài thứ năm.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết ái, không thấy ái như thật, không biết sự sinh khởi của ái, không thấy sự sinh khởi của ái như thật, không biết sự chấm dứt của ái, không thấy sự chấm dứt của ái như thật, không biết con đường dẫn đến sự chấm dứt của ái, không thấy con đường ấy như thật, để có sự hiểu biết như thật về ái,
thì cần phải tỉnh giác."
Bài thứ 196.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.