buppou

Tương Ưng Bộ · SN 50.51

Kinh Triền Cái

Nīvaraṇasutta — bài thứ năm mươi mốt

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Bộc Lưu — mười bài, cũng theo khuôn ấy, nhưng lần này những nhóm pháp được nêu đều là những gì cuốn người ta đi.

Này các tỳ-kheo, có năm triền cái này.

Tên gọi của tương ưng này — Lực — không nói về một thứ có thể tích lũy. Nó nói về một thứ chỉ lộ ra khi có việc phải làm.

Năm triền cái là: dục tham, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi hoặc. Đây là nhóm pháp quen thuộc nhất với người mới hành thiền.

Và như vậy, một bài kinh chỉ gồm mấy câu, được lặp lại đủ nhiều lần để thành một thói quen của tâm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.

Phẩm Thứ Năm (Oghavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Lực.

Kinh Triền Cái (Nīvaraṇasutta) — bài thứ năm mươi mốt.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có năm triền cái này.

Năm ấy là gì?

Dục tham triền cái, sân hận triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái —

đó là năm triền cái.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ năm triền cái ấy, năm lực cần được tu tập.

Năm ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ năm triền cái ấy, năm lực này cần được tu tập."

Bài thứ năm mươi mốt.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →