buppou

Tương Ưng Bộ · SN 24.44

Kinh Tự Ngã Không Khổ Không Lạc

Adukkhamasukhīsutta — bài thứ bốn mươi tư

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này đóng phẩm thứ hai — và là bài cuối của chuỗi tám tà kiến về tự ngã.

Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, chấp lấy cái gì, cố chấp vào cái gì, thì khởi lên tà kiến như vầy: tự ngã không khổ không lạc, không bệnh, sau khi chết?

Đây là cách mô tả tự ngã tinh vi nhất trong tám cách: không khẳng định lạc, không khẳng định khổ, chỉ nói nó ở giữa. Và vẫn là tà kiến.

Sau đó là lời đóng phẩm và bài kệ tóm tắt hai mươi sáu bài — dài nhất trong tương ưng này, vì nó phải kể cả mười tám tà kiến cũ lẫn tám tà kiến mới.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tà Kiến (Diṭṭhisaṃyutta), tương ưng thứ 24.

Phẩm Lần Thứ Hai (Dutiyagamanavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Tà Kiến.

Kinh Tự Ngã Không Khổ Không Lạc (Adukkhamasukhīsutta) — bài thứ bốn mươi tư.


"Tại Sāvatthī.

Đức Thế Tôn nói với các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, khi cái gì có mặt, chấp lấy cái gì, cố chấp vào cái gì, thì khởi lên tà kiến như vầy: tự ngã không khổ không lạc, không bệnh, sau khi chết?

Bạch Đức Thế Tôn, các pháp lấy Đức Thế Tôn làm gốc, lấy Đức Thế Tôn làm kẻ dẫn đường, lấy Đức Thế Tôn làm chỗ nương. Lành thay, xin Đức Thế Tôn giảng ý nghĩa lời ấy.

Vậy này các tỳ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói.

Thưa vâng, bạch Đức Thế Tôn — các tỳ-kheo ấy thưa với Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn nói:

Khi sắc có mặt, chấp lấy sắc, cố chấp vào sắc, thì khởi lên tà kiến như vầy: tự ngã không khổ không lạc, không bệnh, sau khi chết.

Khi thọ có mặt, chấp lấy thọ, cố chấp vào thọ, cũng khởi lên tà kiến ấy.

Khi tưởng có mặt, chấp lấy tưởng, cố chấp vào tưởng, cũng khởi lên tà kiến ấy.

Khi hành có mặt, chấp lấy hành, cố chấp vào hành, cũng khởi lên tà kiến ấy.

Khi thức có mặt, chấp lấy thức, cố chấp vào thức, cũng khởi lên tà kiến ấy.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào: sắc là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi — có thể chấp lấy nó mà khởi lên tà kiến ấy không?

Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.

Thọ, tưởng, hành, thức là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi — có thể chấp lấy nó mà khởi lên tà kiến ấy không?

Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.

Này các tỳ-kheo, cái gì được thấy, nghe, nhận biết, đạt được, tìm cầu, khảo sát bằng ý — cái ấy là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, cái ấy là khổ hay là lạc?

Là khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi — có thể chấp lấy nó mà khởi lên tà kiến ấy không?

Thưa không, bạch Đức Thế Tôn.

Này các tỳ-kheo, khi bậc thánh đệ tử đã đoạn trừ nghi ngờ ở những chỗ này, và đã đoạn trừ nghi ngờ về khổ, về sự sinh khởi của khổ, về sự đoạn diệt của khổ, về con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ —

vị ấy được gọi là bậc thánh đệ tử đã nhập dòng, không còn rơi vào đường ác, chắc chắn, hướng đến giác ngộ."

Bài thứ hai mươi sáu.

Phẩm Lặp Lại Thứ Hai.

Tóm tắt phẩm này:

Gió, cái này là của tôi, tự ngã,

nếu tôi không có;

không có bố thí, kẻ làm, không có nhân,

và tà kiến lớn là bài thứ tám.

Thế giới thường còn và không thường còn,

có biên và không biên;

linh hồn là thân, linh hồn khác thân,

và Như Lai với bốn cách.

Tự ngã có sắc, tự ngã không sắc,

tự ngã có sắc và không sắc;

tự ngã không sắc cũng không không sắc,

tự ngã hoàn toàn lạc.

Tự ngã hoàn toàn khổ,

tự ngã lạc và khổ;

tự ngã không khổ không lạc,

không bệnh, sau khi chết —

ấy là hai mươi sáu bài,

được giảng trong lần thứ hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →