Tương Ưng Bộ · SN 46.125
Kinh Tùy Miên
Anusayasutta — bài thứ một trăm hai mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Mười bài, mười bộ thuật ngữ, và bài cuối cùng là bài dài nhất của phần này.
Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Điều đáng để ý là cách bài kinh giữ nguyên một khuôn và chỉ thay đổi một chỗ nhỏ — chỗ nhỏ ấy là toàn bộ nội dung.
Bài này tên là Kinh Tùy Miên, bài thứ một trăm lẻ hai mươi lăm của tương ưng, nằm ở Phẩm Bộc Lưu.
Đây là một trong những bài có thể đọc lại nhiều lần mà vẫn còn chỗ để dừng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Bộc Lưu (Oghavagga) — phẩm thứ mười ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Tùy Miên (Anusayasutta) — bài thứ một trăm hai mươi lăm.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có bảy tùy miên.
Bảy ấy là gì?
Đó là tùy miên dục tham, tùy miên sân, tùy miên kiến, tùy miên hoài nghi, tùy miên kiêu ngạo, tùy miên hữu tham, tùy miên vô minh.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bảy tùy miên ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Bảy ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ bảy tùy miên ấy, bảy giác chi này cần được tu tập."
Bài thứ một trăm lẻ hai mươi lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.