Tương Ưng Bộ · SN 46.128
Kinh Uẩn Thủ Chấp
Upādānakkhandhasutta — bài thứ một trăm hai mươi tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Phần peyyāla, mười bài cuối của lượt đầu, nặng nhất về thuật ngữ.
Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Nếu đọc nhanh, bài này có vẻ trống. Đọc chậm thì thấy nó đang dạy một cách nhìn.
Bài này tên là Kinh Uẩn Thủ Chấp, bài thứ một trăm lẻ hai mươi tám của tương ưng, nằm ở Phẩm Bộc Lưu.
Không có gì mới để hiểu, chỉ có một điều để làm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Bộc Lưu (Oghavagga) — phẩm thứ mười ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Uẩn Thủ Chấp (Upādānakkhandhasutta) — bài thứ một trăm hai mươi tám.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có năm uẩn thủ chấp.
Năm ấy là gì?
Đó là sắc uẩn thủ chấp, thọ uẩn thủ chấp, tưởng uẩn thủ chấp, hành uẩn thủ chấp, thức uẩn thủ chấp.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ năm uẩn thủ chấp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Bảy ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ năm uẩn thủ chấp ấy, bảy giác chi này cần được tu tập."
Bài thứ một trăm lẻ hai mươi tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.