Tương Ưng Bộ · SN 46.129
Kinh Hạ Phần Kiết Sử
Orambhāgiyasutta — bài thứ một trăm hai mươi chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Mười bài, mười bộ thuật ngữ, và bài cuối cùng là bài dài nhất của phần này.
Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Cái được nhấn mạnh không phải là kết quả, mà là thứ tự: cái gì có trước, cái gì có sau.
Bài này tên là Kinh Hạ Phần Kiết Sử, bài thứ một trăm lẻ hai mươi chín của tương ưng, nằm ở Phẩm Bộc Lưu.
Cái đáng chú ý ở đây không phải nội dung mà là chỗ nội dung ấy được lặp lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.
Phẩm Bộc Lưu (Oghavagga) — phẩm thứ mười ba của Tương Ưng Giác Chi.
Kinh Hạ Phần Kiết Sử (Orambhāgiyasutta) — bài thứ một trăm hai mươi chín.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có năm hạ phần kiết sử.
Năm ấy là gì?
Đó là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân hận.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử ấy, bảy giác chi cần được tu tập.
Bảy ấy là gì?
Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;
vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.
Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ năm hạ phần kiết sử ấy, bảy giác chi này cần được tu tập."
Bài thứ một trăm lẻ hai mươi chín.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.