Tương Ưng Bộ · SN 22.129
Kinh Vị Ngọt
Assādasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vị Ngọt (Assādasutta) đổi nội dung của "vô minh" sang một bộ ba khác — và đây là bộ ba quen thuộc nhất của Tương Ưng Uẩn:
Này hiền giả, đó là khi người phàm phu không học không hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Đó được gọi là vô minh.
Vị ngọt là chỗ nó làm mình vui. Cái hại là chỗ nó làm mình đau. Lối ra là chỗ mình có thể rời khỏi nó.
Và định nghĩa "minh" ở đây rất rõ: không phải biết thêm về năm uẩn, mà là biết đủ ba mặt của chúng. Một người biết mười lăm mặt ấy thì gọi là có minh; một người biết hai mặt — chỉ biết cái vui, hoặc chỉ biết cái khổ — vẫn là vô minh.
Bài này cho một danh sách kiểm tra đơn giản: với mỗi thứ mình đang bám, mình có thấy được cả ba? Hay chỉ đang nhìn một mặt?
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Vị Ngọt (Assādasutta) — bài thứ bốn.
Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.
Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
"Này hiền giả Sāriputta, người ta nói 'vô minh'.
Vô minh là gì?
Và thế nào được gọi là người vô minh?"
"Này hiền giả, đó là khi người phàm phu không học không hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,
của thọ,
của tưởng,
của các hành,
và của thức.
Đó được gọi là vô minh.
Và đó là cách được gọi là người vô minh."
Kinh Vị Ngọt, bài thứ tư, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.