Tương Ưng Bộ · SN 22.128
Kinh Pháp Sinh Khởi (II)
Dutiyasamudayadhammasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Pháp Sinh Khởi (II) (Dutiyasamudayadhammasutta) là tấm gương của bài trước: đổi người hỏi thành người có minh.
Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật sắc — thứ có tính sinh khởi — là thứ có tính sinh khởi; không hiểu... thành hiểu.
Cùng một phép, chỉ bỏ chữ "không". Và kết quả đổi tên: minh, người có minh.
Sáu bài của phẩm này đều ghép cặp như vậy — vô minh rồi minh, cùng một nội dung, đổi một chữ. Đó không phải là sự lười biếng của người kết tập kinh; đó là một cách dạy: cho người nghe thấy rằng minh và vô minh không phải hai thứ khác nhau, mà là cùng một cái được thấy hoặc không được thấy.
Và cái được thấy ấy, ở đây, chỉ là một điều rất nhỏ: cái này đang sinh khởi và đang hoại diệt.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Pháp Sinh Khởi (II) (Dutiyasamudayadhammasutta) — bài thứ ba.
Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.
Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
"Này hiền giả Sāriputta, người ta nói 'minh'.
Minh là gì?
Và thế nào được gọi là người có minh?"
"Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật sắc — thứ có tính sinh khởi — là thứ có tính sinh khởi; hiểu sắc — thứ có tính hoại diệt — là thứ có tính hoại diệt; hiểu sắc — thứ có tính sinh khởi và hoại diệt — là thứ có tính sinh khởi và hoại diệt.
Vị ấy hiểu đúng như thật thọ — thứ có tính sinh khởi — là thứ có tính sinh khởi; hiểu thọ — thứ có tính hoại diệt — là thứ có tính hoại diệt; hiểu thọ — thứ có tính sinh khởi và hoại diệt — là thứ có tính sinh khởi và hoại diệt.
Vị ấy hiểu đúng như thật tưởng — thứ có tính sinh khởi, có tính hoại diệt, có tính sinh khởi và hoại diệt.
Vị ấy hiểu đúng như thật các hành — thứ có tính sinh khởi, có tính hoại diệt, có tính sinh khởi và hoại diệt.
Vị ấy hiểu đúng như thật thức — thứ có tính sinh khởi — là thứ có tính sinh khởi; hiểu thức — thứ có tính hoại diệt — là thứ có tính hoại diệt; hiểu thức — thứ có tính sinh khởi và hoại diệt — là thứ có tính sinh khởi và hoại diệt.
Đó được gọi là minh.
Và đó là cách được gọi là người có minh."
Kinh Pháp Sinh Khởi (II), bài thứ ba, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.