Tương Ưng Bộ · SN 22.46
Kinh Vô Thường (II)
Dutiyaaniccasutta — bài thứ bốn
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vô Thường (II) (Dutiyaaniccasutta) có cùng phần đầu với bài trước, nhưng đoạn kết rẽ một hướng rất khác: không còn kiến chấp về khởi đầu và kết thúc.
Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không còn kiến chấp về khởi thủy. Không còn kiến chấp về khởi thủy thì không còn kiến chấp về chung cuộc. Không còn kiến chấp về chung cuộc thì không cố chấp vào chúng. Không hiểu lầm, tâm trở nên ly tham...
Ba chữ quan trọng ở đây: kiến chấp (diṭṭhi). Không phải "không biết", mà là không còn dựng lên một lý thuyết rồi bám vào nó.
Và lý do kiến chấp ấy sụp thì rất cụ thể: muốn có ý kiến về "khởi thủy của thế giới", phải có một cái gì đó đứng yên để so. Nhưng năm uẩn đang đổi từng phút, nên không có chỗ đứng ấy.
Đây là câu trả lời của Phật cho những câu hỏi lớn nhất — không phải "thế giới có khởi đầu hay không", mà là thấy cái đang đổi thì câu hỏi ấy tự rút lại.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Tự Làm Hòn Đảo (Attadīpavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Vô Thường (II) (Dutiyaaniccasutta) — bài thứ bốn.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường.
Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã.
Và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thọ là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Tưởng là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Các hành là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thức là vô thường.
Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã.
Và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, vị ấy không còn kiến chấp về khởi thủy.
Không còn kiến chấp về khởi thủy thì không còn kiến chấp về chung cuộc.
Không còn kiến chấp về chung cuộc thì không cố chấp vào chúng.
Không hiểu lầm, tâm trở nên ly tham đối với sắc,
đối với thọ,
đối với tưởng,
đối với các hành,
và đối với thức; tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, nhờ không chấp thủ.
Được giải thoát thì vững vàng; vững vàng thì biết đủ; biết đủ thì không lo lắng; không lo lắng thì tự mình lặng yên.
Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"
Kinh Vô Thường (II), bài thứ tư, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.