Tương Ưng Bộ · SN 22.45
Kinh Vô Thường
Aniccasutta — bài thứ ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vô Thường (Aniccasutta) là một bài ngắn mà chứa gần trọn lộ trình: ba dấu, một câu nhận diện, một kết quả.
Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã.
Ba câu, mỗi câu một bước, và bước thứ ba không phải suy ra từ bước thứ hai bằng logic — nó là cách nhìn. Rồi kinh đưa ra câu nói cụ thể của cách nhìn ấy: đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Chuỗi kết quả được kể rất gọn: thấy vậy → tâm ly tham → giải thoát khỏi lậu hoặc → vững vàng → biết đủ → không lo lắng → tự chứng a-la-hán.
Điều đáng chú ý là bài này nói "các yếu tố" (dhātu) ở đoạn kết — sắc giới, thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức giới — chứ không chỉ nói năm uẩn. Cùng một thứ, nhưng gọi bằng tên khác: không phải "khối" mà là "những miền". Cách gọi nào cũng dẫn về chỗ ấy, miễn là thấy đúng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Tự Làm Hòn Đảo (Attadīpavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Vô Thường (Aniccasutta) — bài thứ ba.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, sắc là vô thường.
Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã.
Và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Thọ là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.' Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Tưởng là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.' Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Các hành là vô thường — cái gì vô thường là khổ — cái gì khổ là vô ngã — và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.' Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Thức là vô thường.
Cái gì vô thường là khổ.
Cái gì khổ là vô ngã.
Và cái gì vô ngã thì nên thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vầy: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ như vậy, tâm trở nên ly tham và được giải thoát khỏi các lậu hoặc.
Này các tỳ-kheo, nếu tâm của vị tỳ-kheo trở nên ly tham đối với sắc giới, thọ giới,
tưởng giới,
hành giới,
và thức giới, thì được giải thoát khỏi các lậu hoặc, nhờ không chấp thủ.
Được giải thoát thì vững vàng; vững vàng thì biết đủ; biết đủ thì không lo lắng; không lo lắng thì tự mình lặng yên.
Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"
Kinh Vô Thường, bài thứ ba, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.