buppou

Tương Ưng Bộ · SN 49.25

Kinh Voi Lớn

Nāgasutta — bài thứ hai mươi lăm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Những Việc Cần Đến Sức Mạnh — mười hai bài, mỗi bài mở bằng một hình ảnh về một thứ đứng trên đất rồi mới làm được việc của nó.

Này các tỳ-kheo, các con voi lớn sống dựa vào núi Himavant, và nhờ vậy thân chúng lớn lên, có được sức mạnh.

Tên gọi của tương ưng này — Chánh Cần — thường được dịch là sự cố gắng đúng. Nhưng chữ cần trong tiếng Việt còn mang nghĩa chuyên cần, không bỏ dở. Và có lẽ nghĩa thứ hai ấy gần với điều kinh đang nói hơn.

Ví dụ ở đây là voi lớn: các con voi lớn sống dựa vào núi Himavant, và nhờ vậy thân chúng lớn lên. Đây là ví dụ duy nhất trong phẩm nói về một sinh vật, không phải một vật.

Kinh không giải thích hình ảnh ấy. Nó để hình ảnh tự làm việc của mình.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Chánh Cần (Sammappadhānasaṃyutta), tương ưng thứ 49.

Phẩm Thứ Ba (Balakaraṇīyavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Chánh Cần.

Kinh Voi Lớn (Nāgasutta) — bài thứ hai mươi lăm.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, các con voi lớn sống dựa vào núi Himavant, và nhờ vậy thân chúng lớn lên, có được sức mạnh.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần?

Này các tỳ-kheo, ở đây vị tỳ-kheo khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp ác, bất thiện chưa sinh không sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để đoạn trừ các pháp ác, bất thiện đã sinh.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện chưa sinh được sinh khởi.

Vị ấy khởi lên ước muốn, nỗ lực, khởi lên tinh tấn, quyết tâm, cố gắng — để cho các pháp thiện đã sinh được an trú, không quên, tăng trưởng, sung mãn, được tu tập, đi đến viên mãn.

Như vậy, này các tỳ-kheo, là vị tỳ-kheo dựa trên giới, đứng trên giới tu tập bốn chánh cần, thực hành nhiều bốn chánh cần."

Bài thứ hai mươi lăm.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →