buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.42

Kinh Vực Thẳm

Papātasutta — bài kinh về vực thẳm lớn hơn

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vực Thẳm (Papātasutta) bắt đầu bằng một buổi đi dạo. Đức Thế Tôn cùng nhiều tỳ-kheo lên núi Linh Thứu, rồi rẽ sang mỏm Paṭibhānakūṭa để nghỉ trưa. Một vị tỳ-kheo nhìn thấy một vực thẳm lớn và hỏi: có vực nào lớn hơn, đáng sợ hơn cái này không?

Câu trả lời là có — nhưng không phải một chỗ khác trên núi. Đó là vực thẳm của sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não mà người không hiểu bốn sự thật lao vào: vì ưa thích những hành đưa đến sinh, đưa đến già, đưa đến chết, họ tạo ra những hành ấy, và cứ thế rơi xuống.

Chữ papāta vừa là "vực" vừa là "sự rơi". Bài kinh chơi đúng trên hai nghĩa ấy: cái vực đáng sợ nhất không phải chỗ đất trũng, mà là quán tính tạo tác của chính mình.

Bài này cùng với bài trước và bài sau tạo thành một bộ ba cùng khung: một câu hỏi "có cái gì hơn thế không", và câu trả lời luôn là bốn sự thật.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Vực Thẳm (Papātavagga) — phẩm thứ năm của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Vực Thẳm (Papātasutta) — bài thứ hai.


Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trên núi Linh Thứu.

Rồi Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

"Này các tỳ-kheo, hãy đi với Ta đến mỏm Paṭibhānakūṭa để nghỉ trưa."

"Dạ vâng, bạch Thế Tôn" — các tỳ-kheo thưa với Đức Thế Tôn.

Rồi Đức Thế Tôn cùng nhiều tỳ-kheo đi đến mỏm Paṭibhānakūṭa.

Một vị tỳ-kheo thấy một vực thẳm lớn ở mỏm Paṭibhānakūṭa.

Thấy vậy, vị ấy nói với Đức Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, vực thẳm này lớn thật, đáng sợ thật.

Bạch Thế Tôn, có vực thẳm nào khác lớn hơn và đáng sợ hơn vực thẳm này không?"

"Này tỳ-kheo, có vực thẳm khác lớn hơn và đáng sợ hơn vực thẳm này."

"Bạch Thế Tôn, vực thẳm nào khác lớn hơn và đáng sợ hơn vực thẳm này?"

"Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào không biết như thật: "Đây là khổ"; không biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; không biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; không biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ";

thì họ ưa thích những hành đưa đến sinh, ưa thích những hành đưa đến già, ưa thích những hành đưa đến chết, ưa thích những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Vì ưa thích những hành đưa đến sinh, ưa thích những hành đưa đến già, ưa thích những hành đưa đến chết, ưa thích những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo ra những hành đưa đến sinh, tạo ra những hành đưa đến già, tạo ra những hành đưa đến chết, tạo ra những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Vì đã tạo ra những hành đưa đến sinh, đã tạo ra những hành đưa đến già, đã tạo ra những hành đưa đến chết, đã tạo ra những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ rơi xuống vực thẳm của sinh, rơi xuống vực thẳm của già, rơi xuống vực thẳm của chết, rơi xuống vực thẳm của sầu, bi, khổ, ưu, não.

Họ không được giải thoát khỏi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Ta nói rằng họ không được giải thoát khỏi khổ.

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào biết như thật: "Đây là khổ"; biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ";

biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ" — thì họ không ưa thích những hành đưa đến sinh, không ưa thích những hành đưa đến già, không ưa thích những hành đưa đến chết, không ưa thích những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Vì không ưa thích những hành đưa đến sinh, không ưa thích những hành đưa đến già, không ưa thích những hành đưa đến chết, không ưa thích những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo ra những hành đưa đến sinh, không tạo ra những hành đưa đến già, không tạo ra những hành đưa đến chết, không tạo ra những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não.

Vì đã không tạo ra những hành đưa đến sinh, đã không tạo ra những hành đưa đến già, đã không tạo ra những hành đưa đến chết, đã không tạo ra những hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi xuống vực thẳm của sinh, không rơi xuống vực thẳm của già, không rơi xuống vực thẳm của chết, không rơi xuống vực thẳm của sầu, bi, khổ, ưu, não.

Họ được giải thoát khỏi sinh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.

Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi khổ.

Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."

Kinh Vực Thẳm, bài thứ hai, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →