Trung Bộ Kinh · bài 99/152
Kinh Subha
Subha Sutta — bài kinh kể chuyện thanh niên Subha, con trai bà-la-môn Todeyya, chất vấn Đức Thế Tôn về giá trị của đời sống tại gia và đời sống xuất gia, rồi xin Ngài dạy con đường đi đến cõi Phạm Thiên
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Subha (Subha Sutta) là bài kinh thứ 99 trong Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikāya), bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh gần như trọn vẹn là một cuộc đối thoại giữa Đức Thế Tôn và một thanh niên bà-la-môn tên là Subha, con trai của Todeyya. Hai người ngồi trong tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc), ngoại ô thành Sāvatthī (Xá-vệ), và câu chuyện mở ra bằng một câu hỏi rất đời: sống tại gia hay xuất gia thì dễ thành tựu điều thiện hơn?
Muốn hiểu bài kinh, chỉ cần biết bối cảnh xã hội của nó. Ở Ấn Độ thời Đức Thế Tôn, bà-la-môn là tầng lớp tư tế giữ truyền thống tụng đọc Vệ-đà, tế lễ và bố thí; sa-môn là những người rời nhà, sống không tài sản, đi tìm con đường giải thoát. Subha là một học trò bà-la-môn trẻ, học nhiều nhưng chưa tin, và ông đến gặp Đức Thế Tôn không phải để nghe giảng mà để chất vấn. Ông lần lượt nêu ba lập luận mà giới bà-la-môn đang nói, rồi chờ xem vị sa-môn Gotama trả lời thế nào.
Lập luận thứ nhất là chỉ người tại gia mới thành tựu được pháp đúng đắn, còn người xuất gia thì không. Lập luận thứ hai là việc sống tại gia tuy nặng nề nhưng có quả lớn, còn việc xuất gia nhẹ nhàng nên quả nhỏ. Lập luận thứ ba là có năm pháp tạo phước: sự thật, sự nhiệt thành, phạm hạnh, sự tụng đọc và sự bố thí. Cách Đức Thế Tôn trả lời cả ba lần đều giống nhau ở chỗ Ngài không chọn một bên. Ngài nói mình là người nói sau khi phân tích: hành trì sai thì cả người tại gia lẫn người xuất gia đều thất bại, hành trì đúng thì cả hai đều thành tựu. Rồi Ngài so sánh: việc sống tại gia giống nghề nông, nhiều công đoạn và quả tùy thuộc vào việc mùa màng có thành hay không; việc xuất gia giống nghề buôn bán, ít công đoạn hơn nhưng cũng chỉ có quả khi thành công. Vậy thước đo không phải là số bổn phận, mà là cách mình hành trì.
Phần gay cấn nhất của bài kinh đến ở chỗ Đức Thế Tôn hỏi ngược: trong tất cả các bà-la-môn, có ai đã tự mình thắng tri và chứng ngộ kết quả của năm pháp ấy để tuyên bố về nó chưa? Không ai, kể cả các vị thầy nhiều đời, kể cả mười vị ẩn sĩ xưa làm ra các bài tụng. Ngài bèn so sánh lời dạy ấy với một dãy người mù nắm lấy nhau: kẻ trước không thấy, kẻ giữa không thấy, kẻ sau cũng không thấy. Subha nổi giận, vin vào lời của bà-la-môn Pokkharasāti để nói rằng các sa-môn và bà-la-môn tự nhận có tri kiến siêu phàm chỉ là trò đùa. Đức Thế Tôn không tranh cãi, chỉ hỏi tiếp: Pokkharasāti có biết được tâm của người tôi tớ gái Puṇṇikā của chính ông ta không? Rồi Ngài kể ví dụ người mù bẩm sinh phủ nhận màu sắc chỉ vì mình không thấy, và chỉ ra rằng vị bà-la-môn ấy đang bị năm triền cái che lấp, đang bị năm thứ dục lạc trói buộc.
Từ đó bài kinh đi đến một kết luận bất ngờ. Trong năm pháp của các bà-la-môn, pháp có quả lớn nhất là sự bố thí. Nhưng Đức Thế Tôn bày ra một tình huống: nếu hai bà-la-môn đến dự lễ tế mà một người chỉ mong mình được chỗ ngồi tốt nhất, rồi tức giận khi người khác được, thì các bà-la-môn đâu có bố thí để người khác tức giận; họ bố thí vì lòng thương xót. Vậy chính lòng thương xót là pháp thứ sáu tạo phước. Và khi được hỏi năm pháp ấy có nhiều ở người tại gia hay người xuất gia, Subha đáp: nhiều ở người xuất gia. Nhưng Đức Thế Tôn không dừng ở chỗ ấy. Ngài nói năm pháp ấy chỉ là hành trang của tâm, là điều kiện để tu tập một tâm không oán hận, không ác ý.
Nửa sau bài kinh là phần Subha xin dạy con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên. Đức Thế Tôn không trả lời bằng một tuyên bố trừu tượng, mà hỏi một câu rất cụ thể: làng Naḷakāra ở gần đây phải không? Một người sinh ra và lớn lên ở đó sẽ không ngập ngừng khi được hỏi đường về làng, cũng vậy, Ngài không ngập ngừng khi được hỏi về cõi Phạm Thiên. Con đường ấy là bốn tâm rộng lớn: từ, bi, niềm vui mừng và xả, rải khắp mọi phương, không oán hận, không ác ý. Ngài nói thêm rằng khi tâm giải thoát bằng từ được tu tập như vậy thì nghiệp có hạn lượng đã làm không còn an trú ở đó. Subha nghe xong liền xin quy y, trở thành người cư sĩ. Bài kinh khép lại bằng cảnh bà-la-môn Jānussoṇi xuống khỏi cỗ xe trắng, chắp tay hướng về Đức Thế Tôn và thốt lên rằng vua Pasenadi nước Kosala thật có phước khi trong nước mình có Như Lai, tức bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang trú ngụ. Một chi tiết nhỏ đáng để người đọc hôm nay dừng lại: con đường đến cõi Phạm Thiên mà bài kinh dạy là một kết quả tốt, nhưng chưa phải là giải thoát cuối cùng; và điều Đức Thế Tôn làm suốt bài kinh không phải là thắng một cuộc tranh luận, mà là kéo người đối thoại ra khỏi chỗ nói về điều mình chưa biết.
Tôi nghe như vầy.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Lúc bấy giờ, thanh niên Subha, con trai của Todeyya, trú tại Sāvatthī, trong nhà của một gia chủ nọ, vì một việc gì đó cần làm.
[Chú thích: Về sau, chính Subha này còn gặp Đức Thế Tôn trong bài kinh số 135 của bộ này để hỏi về nghiệp, và sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt thì gặp Ānanda trong Trường Bộ Kinh, bài số 10. Cha của ông là Todeyya, một bà-la-môn nổi tiếng thường được nhắc cùng với Pokkharasāti. Theo chú giải, Todeyya được đặt tên theo làng Tudi ở ngoại ô Sāvatthī.]
Rồi thanh niên Subha, con trai của Todeyya, nói với vị gia chủ có ngôi nhà mà ông đang trú:
"Thưa gia chủ, tôi nghe nói rằng:
[Chú thích: Đoạn này cho thấy đây là lần đầu Subha gặp Đức Thế Tôn.]
'Sāvatthī không thiếu những bậc A-la-hán.'
Hôm nay chúng ta nên đến hầu hạ vị sa-môn hay bà-la-môn nào đây?"
"Thưa ngài, Đức Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Thưa ngài, xin ngài đến hầu hạ Đức Thế Tôn ấy."
Rồi thanh niên Subha, con trai của Todeyya, nhận lời vị gia chủ ấy, đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, chào hỏi Đức Thế Tôn.
Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và những câu chuyện thân tình, ông ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, thanh niên Subha, con trai của Todeyya, nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn nói như vầy:
'Người tại gia mới thành tựu được pháp đúng đắn, thiện xảo; người xuất gia thì không thành tựu được pháp đúng đắn, thiện xảo.'
[Chú thích: Cụm "pháp đúng đắn, thiện xảo" (ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ) tuy được gán cho các bà-la-môn nhưng đọc lên rất giống cách nói của Phật giáo, và chưa tìm thấy câu tương tự trong văn học Bà-la-môn. Tuy vậy, ý tưởng thì đúng là của Bà-la-môn, vì Vệ-đà giáo từ lâu do người tại gia thực hành, còn con đường xuất gia mà Yājñavalkya chủ trương khi ấy vẫn còn gây tranh cãi.]
Ngài Gotama nói gì về điều này?"
"Về điểm này, này thanh niên, Ta là người nói sau khi phân tích;
[Chú thích: "Nói sau khi phân tích" là vibhajjavāda, một từ về sau dùng để chỉ toàn bộ giáo pháp của Đức Thế Tôn, hoặc để gọi một trường phái hay một nhóm trường phái mà Thượng tọa bộ Tích Lan là một. Từ này cũng có trong Kỳ-na giáo.]
Ta không nói một chiều.
Này thanh niên, Ta không tán thán sự hành trì sai lầm của người tại gia, cũng không tán thán sự hành trì sai lầm của người xuất gia.
Vì này thanh niên, dù là người tại gia hay người xuất gia, ai hành trì sai lầm thì do nhân duyên của sự hành trì sai lầm ấy, người ấy không thành tựu được pháp đúng đắn, thiện xảo.
Này thanh niên, Ta tán thán sự hành trì đúng đắn của người tại gia và của người xuất gia.
Vì này thanh niên, dù là người tại gia hay người xuất gia, ai hành trì đúng đắn thì do nhân duyên của sự hành trì đúng đắn ấy, người ấy thành tựu được pháp đúng đắn, thiện xảo."
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn nói như vầy:
'Việc sống tại gia là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, nên có quả lớn;
[Chú thích: Có thể so với những đoạn như Tăng Chi Bộ Kinh 3.60, Trường Bộ Kinh 5 và Tăng Chi Bộ Kinh 5.96.]
còn việc xuất gia là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, nên có quả nhỏ.'
Ngài Gotama nói gì về điều này?"
"Về điểm này nữa, này thanh niên, Ta cũng là người nói sau khi phân tích;
Ta không nói một chiều.
Này thanh niên, có những công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, nhưng khi thất bại thì quả nhỏ;
này thanh niên, có những công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn;
này thanh niên, có những công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ;
này thanh niên, có những công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn.
Này thanh niên, công việc nào là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ?
Này thanh niên, nghề nông là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ.
Này thanh niên, công việc nào là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn?
Này thanh niên, chính nghề nông ấy cũng là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn.
Này thanh niên, công việc nào là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ?
Này thanh niên, nghề buôn bán là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ.
Này thanh niên, công việc nào là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn?
Này thanh niên, chính nghề buôn bán ấy cũng là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn.
Ví như, này thanh niên, nghề nông là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ;
cũng vậy, này thanh niên, việc sống tại gia là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ.
Ví như, này thanh niên, chính nghề nông ấy cũng là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn;
cũng vậy, này thanh niên, việc sống tại gia là công việc lớn lao, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn.
Ví như, này thanh niên, nghề buôn bán là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ;
cũng vậy, này thanh niên, việc xuất gia là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thất bại thì quả nhỏ.
Ví như, này thanh niên, chính nghề buôn bán ấy cũng là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn;
cũng vậy, này thanh niên, việc xuất gia là công việc nhỏ, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, và khi thành công thì quả lớn."
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định năm pháp để tạo phước, để thành tựu điều thiện."
"Này thanh niên, các bà-la-môn ấy chế định năm pháp để tạo phước, để thành tựu điều thiện —
nếu ông không ngại —
thì xin ông nói năm pháp ấy ra trong hội chúng này."
"Thưa ngài Gotama, không có gì khó, vì ở đây đã có những bậc tôn giả như Ngài đang ngồi."
"Vậy thì, này thanh niên, ông hãy nói đi."
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định sự thật là pháp thứ nhất để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định sự nhiệt thành là pháp thứ hai để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
[Chú thích: Vì đây được nói là pháp tu của người tại gia, tapa ở đây có lẽ nghĩa là "sự nhiệt thành" chứ không phải "sự hành xác". Một danh sách bốn pháp hơi giống vậy có trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.4.22: người bà-la-môn chứng đạt Tự ngã bằng cách học Vệ-đà, tế lễ, bố thí và sự nhiệt thành của việc nhịn ăn.]
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định phạm hạnh là pháp thứ ba để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định sự tụng đọc là pháp thứ tư để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định sự bố thí là pháp thứ năm để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chế định năm pháp ấy để tạo phước, để thành tựu điều thiện.
Ngài Gotama nói gì về điều này?"
"Này thanh niên, vậy trong các bà-la-môn, có một bà-la-môn nào đã nói như vầy không:
[Chú thích: Có thể so với Kinh 95, đoạn 13.1.]
'Ta tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng'?"
"Không có, thưa ngài Gotama."
"Này thanh niên, vậy trong các bà-la-môn, có một vị thầy nào, hay thầy của thầy, cho đến bảy đời thầy, đã nói như vầy không:
'Ta tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng'?"
"Không có, thưa ngài Gotama."
"Này thanh niên, thế còn các vị ẩn sĩ thời xưa của các bà-la-môn, những người làm ra các bài tụng, những người truyền bá các bài tụng, mà ngày nay các bà-la-môn tụng lại, đọc lại, nói lại và dạy lại những câu tụng cổ xưa ấy, vốn đã được tụng, được truyền và được gom lại — đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu —
các vị ấy có nói như vầy không:
'Chúng tôi tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng'?"
"Không có, thưa ngài Gotama."
"Như vậy, này thanh niên, hóa ra trong các bà-la-môn không có một người nào đã nói:
'Ta tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng';
cũng không có một vị thầy nào, hay thầy của thầy, cho đến bảy đời thầy, đã nói:
'Ta tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng';
cũng không có các vị ẩn sĩ thời xưa của các bà-la-môn, những người làm ra các bài tụng, những người truyền bá các bài tụng, mà ngày nay các bà-la-môn tụng lại, đọc lại, nói lại và dạy lại những câu tụng cổ xưa ấy, vốn đã được tụng, được truyền và được gom lại — đó là Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa và Bhagu.
Các vị ấy cũng không nói như vầy:
'Chúng tôi tự mình thắng tri, chứng ngộ năm pháp ấy rồi tuyên bố quả của chúng.'
Ví như, này thanh niên, một dãy người mù nắm lấy nhau, kẻ trước không thấy, kẻ giữa không thấy, kẻ sau không thấy;
cũng vậy, này thanh niên, Ta nghĩ lời nói của các bà-la-môn giống như ví dụ về dãy người mù: kẻ trước không thấy, kẻ giữa không thấy, kẻ sau không thấy."
Khi được nói như vậy, thanh niên Subha, con trai của Todeyya, vì Đức Thế Tôn dùng ví dụ dãy người mù để nói về mình, nên tức giận, không hài lòng, bèn mắng nhiếc chính Đức Thế Tôn, phỉ báng chính Đức Thế Tôn, nói lời chống lại chính Đức Thế Tôn:
"Sa-môn Gotama sẽ bị vạch trần!" Ông ta nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, nói như vầy:
[Chú thích: Rừng Subhaga ở ngoại ô Ukkaṭṭha là nơi diễn ra những chuyện lớn cho thấy Đức Thế Tôn cao hơn các bà-la-môn, có lẽ được chọn vì đó là quê của Pokkharasāti. Dòng Opamañña truy về Upamanyu Vāsiṣṭha, tác giả ba bài kệ tụng Indra và Soma trong Rig Veda. Về sau, các Purāṇa lại kể một Upamanyu là tín đồ của Śiva.]
'Cũng vậy, một số sa-môn và bà-la-môn tự nhận có pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, vượt khỏi pháp của loài người.
Lời nói của họ hóa ra chỉ là chuyện đùa, chỉ là lời nói suông, trống rỗng, rỗng tuếch.
Vì làm sao một người bằng xương bằng thịt lại có thể biết, thấy hay chứng ngộ được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, vượt khỏi pháp của loài người?
Điều ấy không thể có.'"
[Chú thích: Thái độ này trái hẳn với Trường Bộ Kinh 3, nơi Pokkharasāti xúc động khi nghe danh tiếng Đức Thế Tôn về tuệ giác trong thiền định. Có lẽ đoạn này xảy ra trước, rồi về sau ông ta mới quan tâm đến Đức Thế Tôn hơn khi danh tiếng Ngài lan rộng.]
"Này thanh niên, bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, có biết được tâm của tất cả các sa-môn và bà-la-môn bằng cách dùng tâm mình bao trùm tâm họ không?"
"Thưa ngài Gotama, bà-la-môn Pokkharasāti còn không biết được tâm của người nữ tôi tớ Puṇṇikā của chính mình bằng cách dùng tâm mình bao trùm tâm bà ấy, huống gì biết được tâm của tất cả các sa-môn và bà-la-môn?"
"Này thanh niên, ví như có người mù bẩm sinh, không thấy được các sắc đen và trắng, không thấy được các sắc xanh, không thấy được các sắc vàng, không thấy được các sắc đỏ, không thấy được các sắc tím, không thấy được chỗ bằng phẳng và chỗ gồ ghề, không thấy được hình dáng các vì sao, không thấy được mặt trăng và mặt trời.
Người ấy sẽ nói như vầy:
'Không có các sắc đen và trắng, không có ai thấy được các sắc đen và trắng;
không có các sắc xanh, không có ai thấy được các sắc xanh;
không có các sắc vàng, không có ai thấy được các sắc vàng;
không có các sắc đỏ, không có ai thấy được các sắc đỏ;
không có các sắc tím, không có ai thấy được các sắc tím;
không có chỗ bằng phẳng và chỗ gồ ghề, không có ai thấy được chỗ bằng phẳng và chỗ gồ ghề;
không có hình dáng các vì sao, không có ai thấy được hình dáng các vì sao;
không có mặt trăng và mặt trời, không có ai thấy được mặt trăng và mặt trời.
Ta không biết điều ấy, ta không thấy điều ấy;
vì thế nên điều ấy không có.'
[Chú thích: Một lối lập luận đến nay vẫn còn quen thuộc.]
Này thanh niên, người ấy nói như vậy có đúng không?"
"Không đúng, thưa ngài Gotama.
Có các sắc đen và trắng, có người thấy được các sắc đen và trắng;
có các sắc xanh, có người thấy được các sắc xanh;
có các sắc vàng, có người thấy được các sắc vàng;
có các sắc đỏ, có người thấy được các sắc đỏ;
có các sắc tím, có người thấy được các sắc tím;
có chỗ bằng phẳng và chỗ gồ ghề, có người thấy được chỗ bằng phẳng và chỗ gồ ghề;
có hình dáng các vì sao, có người thấy được hình dáng các vì sao;
có mặt trăng và mặt trời, có người thấy được mặt trăng và mặt trời.
Ai nói: 'Ta không biết điều ấy, ta không thấy điều ấy,
vì thế nên điều ấy không có' —
người ấy nói như vậy đâu có đúng, thưa ngài Gotama."
"Cũng vậy, này thanh niên, bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, là người mù, không có mắt.
Thật không thể có chuyện ông ta biết, thấy hay chứng ngộ được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, vượt khỏi pháp của loài người.
Này thanh niên, ông nghĩ sao,
những bà-la-môn đại phú ở Kosala, như
bà-la-môn Caṅkī, bà-la-môn Tārukkha, bà-la-môn Pokkharasāti, bà-la-môn Jānussoṇi và cha của ông là Todeyya — đối với họ, cái nào tốt hơn: nói ra lời hợp với sự đồng thuận của mọi người hay nói ra lời không hợp với sự đồng thuận?"
"Hợp với sự đồng thuận, thưa ngài Gotama."
"Đối với họ, cái nào tốt hơn: nói ra lời có suy xét hay nói ra lời không suy xét?"
"Có suy xét, thưa ngài Gotama."
"Đối với họ, cái nào tốt hơn: nói ra lời sau khi đã cân nhắc hay nói ra lời không cân nhắc?"
"Sau khi đã cân nhắc, thưa ngài Gotama."
"Đối với họ, cái nào tốt hơn: nói ra lời có lợi ích hay nói ra lời không có lợi ích?"
"Có lợi ích, thưa ngài Gotama."
"Này thanh niên, ông nghĩ sao,
nếu sự việc là như vậy, thì bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, đã nói ra lời hợp với sự đồng thuận hay không hợp với sự đồng thuận?"
"Không hợp với sự đồng thuận, thưa ngài Gotama."
"Đã nói ra lời có suy xét hay không suy xét?"
"Không suy xét, thưa ngài Gotama."
"Đã nói ra lời sau khi cân nhắc hay không cân nhắc?"
"Không cân nhắc, thưa ngài Gotama."
"Đã nói ra lời có lợi ích hay không có lợi ích?"
"Không có lợi ích, thưa ngài Gotama."
"Này thanh niên, có năm triền cái này.
Năm là những gì?
Triền cái tham dục, triền cái sân hận, triền cái hôn trầm thụy miên, triền cái trạo cử hối quá, triền cái nghi ngờ.
Này thanh niên, đó là năm triền cái.
Này thanh niên, bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, bị năm triền cái ấy che chắn, ngăn ngại, bao phủ, trùm kín.
[Chú thích: Chữ ophuṭo ở đây có thể so với sabbavāriphuṭo trong bài kinh số 56, đoạn 12.2. Trong cả hai trường hợp, phuṭ đều nằm trong một chuỗi từ cùng gốc var, nên có thể là một dạng đã bị hỏng, hoặc ít nhất cũng mang cùng nghĩa.]
Thật không thể có chuyện ông ta biết, thấy hay chứng ngộ được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, vượt khỏi pháp của loài người."
"Này thanh niên, có năm dục công đức này.
[Chú thích của người dịch: Dục công đức là năm nhóm đối tượng của giác quan được xem là đáng ưa, gồm sắc, tiếng, mùi, vị và xúc hấp dẫn.]
Năm là những gì?
Các sắc do mắt nhận biết, đáng ưa, đáng khát khao, dễ chịu, đáng yêu, gắn với dục, khêu gợi lòng tham;
các âm thanh do tai nhận biết, đáng ưa, đáng khát khao, dễ chịu, đáng yêu, gắn với dục, khêu gợi lòng tham;
các mùi hương do mũi nhận biết, đáng ưa, đáng khát khao, dễ chịu, đáng yêu, gắn với dục, khêu gợi lòng tham;
các vị do lưỡi nhận biết, đáng ưa, đáng khát khao, dễ chịu, đáng yêu, gắn với dục, khêu gợi lòng tham;
các xúc do thân nhận biết, đáng ưa, đáng khát khao, dễ chịu, đáng yêu, gắn với dục, khêu gợi lòng tham.
Này thanh niên, đó là năm dục công đức.
Này thanh niên, bà-la-môn Pokkharasāti thuộc dòng Opamañña, ở rừng Subhaga, bị năm dục công đức ấy trói buộc, mê đắm, chìm đắm, không thấy được sự nguy hại, không hiểu được sự xuất ly, mà thọ hưởng chúng.
Thật không thể có chuyện ông ta biết, thấy hay chứng ngộ được pháp siêu nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, vượt khỏi pháp của loài người."
"Này thanh niên, ông nghĩ sao?"
"Ngọn lửa nào có ngọn, có màu sắc và có ánh sáng rực rỡ hơn: ngọn lửa cháy nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu, hay ngọn lửa cháy không nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu?"
"Thưa ngài Gotama, nếu có thể đốt được ngọn lửa không nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu, thì ngọn lửa ấy sẽ có ngọn, có màu sắc và có ánh sáng rực rỡ hơn."
"Này thanh niên, điều ấy không thể có, không có trường hợp ấy: đốt được ngọn lửa không nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu, trừ khi có thần thông.
Ví như, này thanh niên, ngọn lửa cháy nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu, Ta nói niềm hỷ nương vào năm dục công đức cũng giống như vậy.
Ví như, này thanh niên, ngọn lửa cháy không nhờ cỏ và củi làm nhiên liệu, Ta nói niềm hỷ khác hẳn các dục, khác hẳn các pháp bất thiện cũng giống như vậy.
Này thanh niên, niềm hỷ khác hẳn các dục, khác hẳn các pháp bất thiện là gì?
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ nhất (tầng thiền định thứ nhất), có tầm và tứ, với hỷ và lạc sinh do sự ly dục.
Này thanh niên, đây là niềm hỷ khác hẳn các dục, khác hẳn các pháp bất thiện.
Lại nữa, này thanh niên, vị tỳ-kheo do tầm và tứ được lắng xuống, đạt đến nội tâm sáng trong, tâm chuyên nhất, chứng đạt và an trú vào tầng thiền-na thứ hai, không tầm không tứ, với hỷ và lạc sinh do định.
Này thanh niên, đây cũng là niềm hỷ khác hẳn các dục, khác hẳn các pháp bất thiện."
"Này thanh niên, trong năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện, các bà-la-môn nói pháp nào có quả lớn nhất?"
"Thưa ngài Gotama, trong năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện, các bà-la-môn nói sự bố thí là pháp có quả lớn nhất."
"Này thanh niên, ông nghĩ sao,
ví như ở đây, một đại tế lễ đang được sắp đặt cho một bà-la-môn nào đó.
Rồi có hai bà-la-môn đi đến,
nghĩ rằng: 'Chúng ta sẽ dự lễ tế lớn của bà-la-môn tên như vậy.'
Đối với một trong hai bà-la-môn ấy, ý nghĩ như vầy khởi lên:
'Mong sao chỉ mình ta được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn, chứ không phải một bà-la-môn nào khác được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn.'
[Chú thích: Ý nghĩ ấy cũng có thể khởi lên nơi các vị tỳ-kheo, như trong bài kinh số 5, đoạn 15.2.]
Này thanh niên, thế nhưng có trường hợp xảy ra: một bà-la-môn khác được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn, còn bà-la-môn ấy thì không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn.
Nghĩ rằng: 'Một bà-la-môn khác được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn, còn ta thì không được chỗ ngồi tốt nhất, nước uống tốt nhất, phần ăn tốt nhất trong nhà ăn',
thế là ông ta tức giận, không hài lòng.
Này thanh niên, các bà-la-môn nói quả của việc ấy là gì?"
"Thưa ngài Gotama, các bà-la-môn đâu có bố thí như vầy:
'Để cho người khác tức giận, không hài lòng vì việc này.'
Trái lại, thưa ngài Gotama, các bà-la-môn chỉ bố thí những món quà sinh ra từ lòng thương xót."
"Này thanh niên, nếu vậy thì đây hóa ra là pháp thứ sáu tạo phước của các bà-la-môn —
đó là sinh ra từ lòng thương xót."
"Thưa ngài Gotama, nếu vậy thì đây quả là pháp thứ sáu tạo phước của các bà-la-môn —
[Chú thích: Đức Thế Tôn chấp nhận ý ban đầu của Subha về sự bố thí trên phương diện hành động, rồi dẫn ông đến chỗ đồng ý cả về tầm quan trọng của động cơ bên trong.]
đó là sinh ra từ lòng thương xót."
"Này thanh niên, trong năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện, ông thường thấy năm pháp ấy nhiều ở đâu —
ở người tại gia hay ở người xuất gia?"
"Thưa ngài Gotama, trong năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện, con thường thấy năm pháp ấy nhiều ở người xuất gia, ít ở người tại gia.
Thưa ngài Gotama, vì người tại gia có nhiều việc, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, nên không phải lúc nào cũng nói lời chân thật;
còn người xuất gia, thưa ngài Gotama, thì ít việc, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, nên lúc nào cũng nói lời chân thật.
Thưa ngài Gotama, vì người tại gia có nhiều việc, nhiều bổn phận, nhiều chuyện phải giải quyết, nhiều công việc phải khởi sự, nên không phải lúc nào cũng sống nhiệt thành;
không phải lúc nào cũng sống phạm hạnh;
không phải lúc nào cũng chuyên tụng đọc;
không phải lúc nào cũng rộng lòng bố thí.
Còn người xuất gia, thưa ngài Gotama, thì ít việc, ít bổn phận, ít chuyện phải giải quyết, ít công việc phải khởi sự, nên lúc nào cũng sống nhiệt thành;
lúc nào cũng sống phạm hạnh;
lúc nào cũng chuyên tụng đọc;
lúc nào cũng rộng lòng bố thí.
Thưa ngài Gotama, trong năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện, con thường thấy năm pháp ấy nhiều ở người xuất gia, ít ở người tại gia."
"Này thanh niên, năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện ấy, Ta nói chúng là hành trang của tâm —
đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý.
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo nói lời chân thật.
Vị ấy nghĩ: 'Ta là người nói lời chân thật', nên được niềm hoan hỷ về nghĩa, được niềm hoan hỷ về pháp, được niềm vui gắn với pháp.
Niềm vui gắn với thiện ấy, Ta nói đó là hành trang của tâm —
đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý.
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo sống nhiệt thành. Vị ấy nghĩ: 'Ta sống nhiệt thành', nên được niềm hoan hỷ về nghĩa, được niềm hoan hỷ về pháp, được niềm vui gắn với pháp. Niềm vui gắn với thiện ấy, Ta nói đó là hành trang của tâm — đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý."
"Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo sống phạm hạnh. Vị ấy nghĩ: 'Ta sống phạm hạnh', nên được niềm hoan hỷ về nghĩa, được niềm hoan hỷ về pháp, được niềm vui gắn với pháp. Niềm vui gắn với thiện ấy, Ta nói đó là hành trang của tâm — đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý.
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo chuyên tụng đọc. Vị ấy nghĩ: 'Ta chuyên tụng đọc', nên được niềm hoan hỷ về nghĩa, được niềm hoan hỷ về pháp, được niềm vui gắn với pháp. Niềm vui gắn với thiện ấy, Ta nói đó là hành trang của tâm — đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý.
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo rộng lòng bố thí.
Vị ấy nghĩ: 'Ta rộng lòng bố thí', nên được niềm hoan hỷ về nghĩa, được niềm hoan hỷ về pháp, được niềm vui gắn với pháp.
Niềm vui gắn với thiện ấy, Ta nói đó là hành trang của tâm —
đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý.
Này thanh niên, năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện ấy, Ta nói chúng là hành trang của tâm —
đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý."
Khi nghe nói vậy, thanh niên Subha, con trai của Todeyya, nói với Đức Thế Tôn:
"Thưa ngài Gotama, con có nghe nói rằng:
'Sa-môn Gotama biết con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên.'"
"Này thanh niên, ông nghĩ sao,
làng Naḷakāra ở gần đây, chứ không phải ở xa?"
"Thưa ngài, đúng vậy, làng Naḷakāra ở gần đây, không phải ở xa."
"Này thanh niên, ông nghĩ sao, ví như có một người sinh ra và lớn lên ở làng Naḷakāra;
người ấy vừa rời khỏi làng Naḷakāra thì có người hỏi đường đến làng Naḷakāra;
này thanh niên, người sinh ra và lớn lên ở làng Naḷakāra ấy khi được hỏi đường đến làng Naḷakāra, có thể nào lại chậm chạp hay ngập ngừng không?"
"Không đâu, thưa ngài Gotama."
"Vì sao vậy?"
"Thưa ngài Gotama, vì người ấy sinh ra và lớn lên ở làng Naḷakāra. Người ấy biết rõ mọi con đường đến làng Naḷakāra."
"Này thanh niên, người ấy có thể chậm chạp hay ngập ngừng khi được hỏi đường đến làng Naḷakāra, nhưng Như Lai thì không bao giờ chậm chạp hay ngập ngừng khi được hỏi về cõi Phạm Thiên hay con đường đi đến cõi Phạm Thiên.
Này thanh niên, Ta biết Phạm Thiên, biết cõi Phạm Thiên và con đường đi đến cõi Phạm Thiên; và Ta cũng biết người thực hành theo con đường ấy thì được sinh vào cõi Phạm Thiên."
"Thưa ngài Gotama, con có nghe nói rằng:
'Sa-môn Gotama dạy con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên.'
Lành thay, xin ngài Gotama dạy cho con con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên."
[Chú thích: Như trong Trường Bộ Kinh 13, đoạn 39.2. Tôn giả Sāriputta cũng dạy một con đường tương tự trong bài kinh số 97, đoạn 31.3, nhưng không được ai thỉnh cầu.]
"Vậy thì, này thanh niên, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."
"Thưa vâng, thưa ngài", thanh niên Subha, con trai của Todeyya, vâng lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói như vầy:
"Này thanh niên, con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên là gì?
Ở đây, này thanh niên, vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với từ khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với từ, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới.
Này thanh niên, khi tâm giải thoát bằng từ được tu tập như vậy, nghiệp có hạn lượng đã làm không còn tồn tại, không còn an trú ở đó.
Ví như, này thanh niên, một người thổi tù và khỏe mạnh có thể làm cho bốn phương nghe thấy một cách dễ dàng;
cũng vậy, này thanh niên, vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với từ khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với từ, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới, một cách dễ dàng, không khó nhọc. Khi tâm giải thoát bằng từ được tu tập như vậy, này thanh niên, nghiệp có hạn lượng đã làm không còn tồn tại, không còn an trú ở đó.
[Chú thích: Tâm trong thiền-na mạnh đến mức lấn át được nghiệp có hạn, kể cả những việc thiện hay ác bình thường. Trừ khi đã phạm trọng tội có quả nghiệp cố định như giết cha, giết mẹ và những tội tương tự, người tu tập như vậy sẽ được sinh vào cõi Phạm Thiên.]
Này thanh niên, đây là con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên.
Lại nữa, này thanh niên, vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với bi khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với bi, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới.
Vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với niềm vui mừng khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với niềm vui mừng, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới.
Vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với xả khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với xả, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới.
Này thanh niên, khi tâm giải thoát bằng xả được tu tập như vậy, nghiệp có hạn lượng đã làm không còn tồn tại, không còn an trú ở đó.
Ví như, này thanh niên, một người thổi tù và khỏe mạnh có thể làm cho bốn phương nghe thấy một cách dễ dàng;
cũng vậy, này thanh niên, vị tỳ-kheo an trú, rải tâm câu hữu với xả khắp một phương, rồi phương thứ hai, rồi phương thứ ba, rồi phương thứ tư; cũng vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả mọi loài, vị ấy an trú, rải tâm câu hữu với xả, rộng lớn, bao la, vô lượng, không oán hận, không ác ý, khắp cả thế giới, một cách dễ dàng, không khó nhọc. Khi tâm giải thoát bằng xả được tu tập như vậy, này thanh niên, nghiệp có hạn lượng đã làm không còn tồn tại, không còn an trú ở đó.
Này thanh niên, đây cũng là con đường đi đến cõi chung với Phạm Thiên."
Khi nghe nói vậy, thanh niên Subha, con trai của Todeyya, nói với Đức Thế Tôn:
"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama!
Ví như, thưa ngài Gotama, có người dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách.
Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.
[Chú thích: Kinh 135, đoạn 21.4 và Trường Bộ Kinh 10, đoạn 2.37.9 cũng kể rằng ông đã quy y thêm lần nữa về sau.]
Xin ngài Gotama nhận con làm người cư sĩ, từ nay cho đến khi hết mạng sống, con xin quy y.
Thưa ngài Gotama, giờ con phải đi;
con có nhiều việc, nhiều chuyện phải làm."
[Chú thích: Câu này nhắc lại điều chính ông đã thừa nhận ở đoạn 5.2 về bao nhiêu bổn phận của người tại gia.]
"Này thanh niên, ông hãy đi khi ông thấy đã đến lúc."
Rồi thanh niên Subha, con trai của Todeyya, hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn, đi nhiễu phía bên phải Ngài rồi ra đi.
Lúc bấy giờ, bà-la-môn Jānussoṇi cùng cỗ xe do những con ngựa cái toàn màu trắng kéo, rời khỏi Sāvatthī giữa ban ngày.
Bà-la-môn Jānussoṇi thấy thanh niên Subha, con trai của Todeyya, từ xa đi tới.
Thấy vậy, bà-la-môn Jānussoṇi nói với thanh niên Subha, con trai của Todeyya:
"Thưa ngài Bhāradvāja, giữa ban ngày mà ngài từ đâu đến vậy?"
"Thưa ngài, tôi vừa từ chỗ sa-môn Gotama đến."
"Ngài Bhāradvāja nghĩ sao về trí tuệ sáng rõ của sa-môn Gotama? Ngài có cho ông ta là người trí không?"
"Thưa ngài, tôi là ai mà biết được trí tuệ sáng rõ của sa-môn Gotama?
Phải là người ngang tầm với ông ta mới biết được trí tuệ sáng rõ của sa-môn Gotama."
"Ngài Bhāradvāja quả đã tán thán sa-môn Gotama bằng một lời tán thán lớn lao."
"Thưa ngài, tôi là ai mà tán thán sa-môn Gotama?
Chính ngài Gotama ấy là bậc mà các bậc tán thán đều tán thán, là bậc tối thượng trong chư thiên và loài người.
Năm pháp mà các bà-la-môn chế định để tạo phước, để thành tựu điều thiện,
thì sa-môn Gotama nói đó là hành trang của tâm —
đó là để tu tập tâm không oán hận, không ác ý."
Khi nghe nói vậy, bà-la-môn Jānussoṇi xuống khỏi cỗ xe do những con ngựa cái toàn màu trắng kéo, vắt áo lên một bên vai, chắp hai tay hướng về Đức Thế Tôn, rồi thốt lên lời cảm thán:
"Thật là được lợi cho vua Pasenadi nước Kosala, thật là được lợi lớn cho vua Pasenadi nước Kosala
khi trong lãnh thổ của vua ấy có Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đang trú ngụ!"
Kinh Subha, bài thứ chín, đã hoàn tất.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.