Trung Bộ Kinh · bài 26/152
Kinh Thánh Cầu
Ariyapariyesanā Sutta
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Thánh Cầu (Ariyapariyesanā Sutta, còn gọi Pāsarāsisutta, "Đống Bẫy") là bài kinh thứ 26 trong Trung Bộ Kinh, bộ kinh gồm 152 bài giảng cỡ vừa trong Kinh tạng tiếng Pali. Bài kinh có hai phần rõ rệt: phần đầu là một bài giảng về hai cách tìm cầu, phần sau là câu chuyện Đức Thế Tôn kể lại con đường của chính mình từ lúc rời nhà đến lúc giác ngộ và bắt đầu truyền dạy.
Chữ "tìm cầu" ở đây không chỉ là mong muốn. Nó là cả một đời người dồn vào việc theo đuổi một cái gì đó. Bài kinh phân biệt hai lối: lối thấp hèn là đi tìm những thứ cũng sinh, cũng già, cũng bệnh, cũng chết như chính mình; lối cao quý là thấy sự nguy hại của những thứ ấy rồi tìm cái không còn sinh, già, bệnh, chết. Đức Thế Tôn kể mình đã từng đi theo lối thứ nhất trước khi tìm ra lối thứ hai.
Phần tự truyện là chỗ bài kinh đặc biệt. Người đọc được nghe chuyện một thanh niên rời cha mẹ, đến học với hai vị thầy nổi tiếng nhất đương thời, đạt được tất cả những gì họ dạy, rồi nhận ra điều ấy vẫn chưa đủ. Sau đó vị ấy đến một vùng rừng bên sông, ngồi xuống, và tự mình tìm ra con đường. Bài kinh không tô điểm: nó kể cả lúc vị ấy do dự không muốn dạy, và lúc vị thần tối cao của truyền thống bà-la-môn phải xuống thỉnh cầu.
Nửa sau bài kinh là một bức tranh khác: năm người bạn tu khổ hạnh từng hầu hạ vị ấy, giờ lại nghi ngờ vì thấy vị ấy đã bỏ lối tu ép xác. Cuộc đối thoại giữa họ, và cách vị ấy thuyết phục họ, cho thấy con đường không nằm ở việc hành hạ thân xác mà ở chỗ hiểu đúng tâm mình. Bài kinh khép lại bằng hình ảnh con nai thoát khỏi bẫy: đi, đứng, ngồi, nằm mà không còn sợ.
Với người chưa quen kinh điển, có thể đọc bài này như một câu chuyện về việc tìm ra điều mình thật sự muốn, và về cái giá của việc bằng lòng với những gì dễ thấy. Tên Pali Pāsarāsisutta nghĩa là "bài kinh về đống bẫy", lấy từ hình ảnh cuối bài; còn Ariyapariyesanā nghĩa là "sự tìm cầu cao quý", lấy từ phần giảng đầu bài. Hai cái tên ấy ứng với hai nửa của cùng một bài kinh.
Pāsarāsisutta — "Đống Bẫy"; còn gọi Ariyapariyesanā, "Sự tìm cầu cao quý"
Tôi nghe như vầy.
[Chú thích: Bài kinh này trong các bản Pali và chú giải có hai tên là "Sự tìm cầu cao quý" và "Đống Bẫy"; bản Hán tương ứng (MA 204) lại đề là "Kinh tại tịnh xá của Rāma". Đây là một trong những bài trong Trung Bộ Kinh kể lại một phần quá trình tu tập của Siddhattha trước khi giác ngộ, và bản này tập trung vào hai vị thầy bà-la-môn; các bài MN 36, MN 85 và MN 100 kể dài hơn về lối khổ hạnh.]
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Rồi Đức Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi vào Sāvatthī để khất thực.
Bấy giờ, nhiều tỳ-kheo đi đến chỗ ngài Ānanda (A-nan); đến nơi, họ nói với ngài Ānanda:
"Đã lâu rồi, này hiền giả Ānanda, chúng tôi không được nghe câu chuyện Pháp trực tiếp từ Đức Thế Tôn.
[Chú thích: Sự do dự của Đức Thế Tôn ở đây không có lý do rõ ràng như trong những bài khác. Chỗ này nên hiểu là cách kể chuyện báo trước: sự do dự cần có người can thiệp, và khi bài giảng diễn ra thì nó không ở tịnh xá Phật giáo mà ở đất của bà-la-môn. Điều ấy lặp lại ở mục 19, khi Ngài do dự thuyết Pháp cho đến lúc Phạm Thiên thỉnh cầu.]
Lành thay, này hiền giả Ānanda, mong chúng tôi được nghe câu chuyện Pháp trực tiếp từ Đức Thế Tôn."
"Vậy thì, các hiền giả, hãy đi đến tịnh xá của bà-la-môn Rammaka.
[Chú thích: Rammaka chỉ xuất hiện ở đây, và chú giải không nói thêm gì. Tên ông có lẽ cho thấy ông là học trò của vị thầy Rāma xuất hiện ở phần sau của bài kinh.]
Có lẽ các vị sẽ được nghe câu chuyện Pháp trực tiếp từ Đức Thế Tôn."
"Vâng, thưa hiền giả," các tỳ-kheo ấy đáp lời ngài Ānanda.
Rồi Đức Thế Tôn sau khi khất thực ở Sāvatthī, ăn xong và trên đường trở về từ việc khất thực, Ngài gọi ngài Ānanda:
[Chú thích: Trình tự từ lúc đi khất thực về đến lúc tắm cũng có ở AN 6.43. Ở đây dụng ý nằm ở chỗ ngầm: người học trò bà-la-môn phải tắm rửa trước khi hành lễ.]
"Này Ānanda, hãy đến, chúng ta hãy đi đến tòa lầu của bà mẹ Migāra (Lộc Mẫu) trong Đông Viên để nghỉ trưa."
[Chú thích: Sau rừng Jeta, đây là tịnh xá nổi tiếng nhất ở Sāvatthī, do bà Visākhā, được gọi là mẹ của Migāra, dâng cúng.]
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," ngài Ānanda đáp lời Đức Thế Tôn.
Rồi Đức Thế Tôn cùng ngài Ānanda đi đến Đông Viên, tòa lầu của bà mẹ Migāra, để nghỉ trưa.
Đến buổi chiều, Đức Thế Tôn ra khỏi chỗ tĩnh lặng và gọi ngài Ānanda:
"Này Ānanda, hãy đến, chúng ta hãy đi đến cổng phía đông để tắm rửa chân tay."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn," ngài Ānanda đáp lời Đức Thế Tôn.
Rồi Đức Thế Tôn cùng ngài Ānanda đi đến cổng phía đông để tắm rửa chân tay.
Sau khi tắm ở cổng phía đông và bước lên khỏi nước, Ngài đứng trong một y, phơi khô chân tay.
Rồi ngài Ānanda bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, tịnh xá của bà-la-môn Rammaka ở gần đây.
Bạch Thế Tôn, tịnh xá của bà-la-môn Rammaka thật khả ái,
bạch Thế Tôn, tịnh xá của bà-la-môn Rammaka thật thanh nhã.
Lành thay, bạch Thế Tôn, mong Đức Thế Tôn vì lòng thương xót mà đi đến tịnh xá của bà-la-môn Rammaka."
Đức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng.
Rồi Đức Thế Tôn đi đến tịnh xá của bà-la-môn Rammaka.
Lúc bấy giờ, nhiều tỳ-kheo đang ngồi tụ họp trong tịnh xá của bà-la-môn Rammaka, nói chuyện về Pháp.
[Chú thích: Ở đây và ở MN 92:4.1, "assama" là một tòa nhà khá lớn, đủ chỗ tụ họp, khác với nghĩa "am thất có cổng" ở SN 11.9:1.4. Từ này thường dùng cho chỗ ở của bà-la-môn.]
Rồi Đức Thế Tôn đứng ngoài cửa, chờ cho câu chuyện kết thúc.
Khi biết câu chuyện đã hết, Đức Thế Tôn hắng giọng và gõ vào cánh cửa.
[Chú thích: Như ở AN 9.4:1.4.]
Các tỳ-kheo ấy mở cửa cho Đức Thế Tôn,
rồi Đức Thế Tôn bước vào tịnh xá, ngồi xuống chỗ ngồi đã được trải sẵn.
Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, các ông đang ngồi bàn chuyện gì vậy? Câu chuyện giữa chừng ấy bị bỏ dở ở đâu?"
"Bạch Thế Tôn, câu chuyện Pháp mà chúng con đang nói dở là về chính Đức Thế Tôn, thì Đức Thế Tôn đã đến."
"Lành thay, này các tỳ-kheo.
Này các tỳ-kheo, các ông là những người con trai thiện gia đã vì lòng tin mà rời bỏ gia đình, sống đời không nhà; việc các ông ngồi lại nói chuyện về Pháp là điều thích hợp với các ông.
Này các tỳ-kheo, khi đã tụ họp, các ông có hai việc để làm:
nói chuyện về Pháp, hoặc giữ sự im lặng cao quý."
[Chú thích: "Sự im lặng cao quý" được định nghĩa hẹp là tầng thiền-na thứ hai (SN 21.1).]
Này các tỳ-kheo, có hai sự tìm cầu:
[Chú thích: Đức Thế Tôn tiếp nối chuyện các tỳ-kheo đang nói về mình, nhưng chuyển sang cách nói khái quát. Nội dung đoạn này được dạy ngắn gọn hơn ở AN 4.255.]
sự tìm cầu cao quý và sự tìm cầu thấp hèn.
[Chú thích: Hai sự tìm cầu đối lập này ứng với Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 4.4.22, nơi người xưa từ bỏ sự tìm cầu con cái, tài sản và các cõi trời để sống đời khất sĩ. Cái "tự ngã" mà các bà-la-môn tìm cầu được mô tả là không sinh, do thức tạo thành, không già, không dính mắc và không bị nghiệp chi phối.]
Này các tỳ-kheo, thế nào là sự tìm cầu thấp hèn?
Ở đây, này các tỳ-kheo, có người bản thân mang bản chất sinh, lại đi tìm cái cũng mang bản chất sinh; bản thân mang bản chất già, lại đi tìm cái cũng mang bản chất già; bản thân mang bản chất bệnh, lại đi tìm cái cũng mang bản chất bệnh; bản thân mang bản chất chết, lại đi tìm cái cũng mang bản chất chết; bản thân mang bản chất sầu, lại đi tìm cái cũng mang bản chất sầu; bản thân mang bản chất nhiễm ô, lại đi tìm cái cũng mang bản chất nhiễm ô.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất sinh?
[Chú thích: Bản Pali kể cả vàng và bạc vào những thứ mang bản chất sinh, già và nhiễm ô. Bản Hán tương ứng (MA 204) không nhắc đến "sinh" mà nói tiền bạc, châu báu chịu già và nhiễm ô. Chú giải có giải thích cho từng trường hợp, cho thấy dù đây là lỗi truyền bản thì lỗi ấy cũng đã có từ rất sớm.]
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất sinh, tôi tớ trai gái mang bản chất sinh, dê cừu mang bản chất sinh, gà heo mang bản chất sinh, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất sinh, vàng bạc mang bản chất sinh.
[Chú thích: Vàng và bạc được xem là "sinh" vì do sức nóng sinh ra. Pali dùng chữ jātarūpa, nghĩa đen là "hình tướng đã sinh", để chỉ vàng; chữ này hiếm gặp trong kinh sớm và gợi liên hệ với ý niệm sinh.]
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất sinh.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất sinh mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất sinh.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất già?
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất già, tôi tớ trai gái mang bản chất già, dê cừu mang bản chất già, gà heo mang bản chất già, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất già, vàng bạc mang bản chất già.
[Chú thích: Vàng và bạc già đi vì rỉ sét hay bụi bẩn.]
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất già.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất già mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất già.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất bệnh?
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất bệnh, tôi tớ trai gái mang bản chất bệnh, dê cừu mang bản chất bệnh, gà heo mang bản chất bệnh, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất bệnh.
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất bệnh.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất bệnh mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất bệnh.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất chết?
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất chết, tôi tớ trai gái mang bản chất chết, dê cừu mang bản chất chết, gà heo mang bản chất chết, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất chết.
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất chết.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất chết mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất chết.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất sầu?
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất sầu, tôi tớ trai gái mang bản chất sầu, dê cừu mang bản chất sầu, gà heo mang bản chất sầu, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất sầu.
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất sầu.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất sầu mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất sầu.
Này các tỳ-kheo, thế nào được gọi là cái mang bản chất nhiễm ô?
Này các tỳ-kheo, vợ con mang bản chất nhiễm ô, tôi tớ trai gái mang bản chất nhiễm ô, dê cừu mang bản chất nhiễm ô, gà heo mang bản chất nhiễm ô, voi, bò, ngựa và ngựa cái mang bản chất nhiễm ô, vàng bạc mang bản chất nhiễm ô.
[Chú thích: Vàng và bạc bị nhiễm ô bởi sắt và những thứ khác.]
Này các tỳ-kheo, những sự bám víu ấy đều mang bản chất nhiễm ô.
Bị trói buộc, say mê và chìm đắm trong đó, kẻ ấy bản thân mang bản chất nhiễm ô mà vẫn đi tìm cái cũng mang bản chất nhiễm ô.
Này các tỳ-kheo, đây là sự tìm cầu thấp hèn.
Này các tỳ-kheo, thế nào là sự tìm cầu cao quý?
Ở đây, này các tỳ-kheo, có người bản thân mang bản chất sinh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sinh, lại đi tìm cái không còn sinh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất già, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất già, lại đi tìm cái không còn già, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất bệnh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất bệnh, lại đi tìm cái không còn bệnh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất chết, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất chết, lại đi tìm sự thoát khỏi cái chết, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất sầu, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sầu, lại đi tìm cái không còn sầu, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất nhiễm ô, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất nhiễm ô, lại đi tìm cái không còn nhiễm ô, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn.
[Chú thích: Theo K. R. Norman, các tính từ ajāta, ajara và những từ cùng loại không có nghĩa Niết-bàn là "cái chưa từng sinh", mà là ở Niết-bàn không còn tái sinh. Cũng vậy, amata không có nghĩa "bất tử" mà là "không còn chết".]
Này các tỳ-kheo, đây là sự tìm cầu cao quý.
Này các tỳ-kheo, cả Ta, trước khi giác ngộ, khi chưa chứng ngộ trọn vẹn và còn là Bồ-tát, cũng đã từng bản thân mang bản chất sinh mà đi tìm cái mang bản chất sinh; bản thân mang bản chất già mà đi tìm cái mang bản chất già; bản thân mang bản chất bệnh mà đi tìm cái mang bản chất bệnh; bản thân mang bản chất chết mà đi tìm cái mang bản chất chết; bản thân mang bản chất sầu mà đi tìm cái mang bản chất sầu; bản thân mang bản chất nhiễm ô mà đi tìm cái mang bản chất nhiễm ô.
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Sao Ta lại bản thân mang bản chất sinh mà đi tìm cái mang bản chất sinh, bản thân mang bản chất già mà đi tìm cái mang bản chất già, bản thân mang bản chất bệnh mà đi tìm cái mang bản chất bệnh, bản thân mang bản chất chết mà đi tìm cái mang bản chất chết, bản thân mang bản chất sầu mà đi tìm cái mang bản chất sầu, bản thân mang bản chất nhiễm ô mà đi tìm cái mang bản chất nhiễm ô?
Vậy thì Ta hãy, bản thân mang bản chất sinh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sinh, đi tìm cầu cái không còn sinh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất già, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất già, đi tìm cầu cái không còn già, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất bệnh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất bệnh, đi tìm cầu cái không còn bệnh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất chết, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất chết, đi tìm cầu sự thoát khỏi cái chết, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất sầu, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sầu, đi tìm cầu cái không còn sầu, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất nhiễm ô, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất nhiễm ô, đi tìm cầu cái không còn nhiễm ô, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn."
Rồi này các tỳ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, tóc đen nhánh, đang độ thanh xuân, ở tuổi đầu tiên của đời người, dù cha mẹ không muốn, mặt đầm đìa nước mắt, khóc than, Ta vẫn cạo bỏ tóc và râu, mặc y màu vàng, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà.
[Chú thích: Điều này trái với truyền thuyết kể rằng Ngài lén bỏ đi trong đêm khuya.]
Sau khi xuất gia như vậy, Ta đi tìm cái gì là thiện, tìm cầu trạng thái an tịnh tối thượng, và đi đến chỗ Āḷāra Kālāma (A-la-la Ca-lam). Đến nơi, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
[Chú thích: Cụm kiṅkusalagavesī có thể dịch là "đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: thế nào là thiện". Ở MN 102:25.1, "trạng thái an tịnh tối thượng" được xác định là sự giải thoát không chấp thủ. Āḷāra Kālāma là một vị thầy lớn trong truyền thống ẩn sĩ và khổ hạnh của Upaniṣad.]
"Này hiền giả Kālāma, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này."
[Chú thích: Śatapatha Brāhmaṇa 11.5.4.1 ghi lại lễ nhập môn vào đời sống phạm hạnh: người học trò nói rằng mình đến vì phạm hạnh, rồi thầy hỏi tên người học trò. Nghi thức thọ giới của Phật giáo cũng dùng câu hỏi ấy (Kd 1:76.1.15), nhưng ở đây nó chỉ để xác nhận thân phận, còn với bà-la-môn nó là sự đồng nhất thần bí với Đấng Sáng tạo.]
Khi nghe vậy, này các tỳ-kheo, Āḷāra Kālāma nói với Ta:
"Xin hiền giả cứ ở lại đây.
[Chú thích: Āḷāra Kālāma gọi học trò của mình là āyasmā (Phạn ngữ āyuṣmant), một danh hiệu mà trong Śatapatha Brāhmaṇa dành riêng cho thần Agni. Như thế ông ngầm thừa nhận địa vị thiêng liêng của người học trò.]
Giáo pháp này là như vậy, người hiểu biết không bao lâu sẽ tự mình chứng biết giáo pháp của thầy mình bằng thắng trí, chứng đắc và an trú."
[Chú thích: sakaṁ ācariyakaṁ nghĩa đen là "cái thuộc về thầy của mình", chỉ truyền thống giáo lý riêng của một vị thầy. Trong lễ nhập môn bà-la-môn, sau khi nhận học trò, người thầy nắm tay học trò và nói rằng Agni là thầy của học trò và chính mình cũng là thầy (Śatapatha Brāhmaṇa 11.5.4.2).]
Này các tỳ-kheo, không bao lâu, Ta đã học thuộc giáo pháp ấy một cách nhanh chóng.
[Chú thích: Kinh không nói rõ là kinh điển nào, nhưng hẳn là kinh điển bà-la-môn, vì đó là những bộ kinh duy nhất được biết đến khi ấy. Śatapatha Brāhmaṇa 11.5.4.13 dạy người học trò mới trước hết học bài kệ Sāvitrī, bản Gāyatrī; Đức Thế Tôn có nhắc đến bài kệ này ở MN 92:26.2 và Snp 3.4:7.3.]
Này các tỳ-kheo, chỉ với chừng ấy, chỉ bằng việc đọc trên môi, chỉ bằng việc lặp lại bằng lời, Ta đã nói được những lời của sự hiểu biết và những lời của truyền thống bậc trưởng lão, Ta tự nhận biết và thấy, và những người khác cũng vậy.
[Chú thích: Cụm ñāṇavādañca theravādañca ý nói sự hiểu biết của cá nhân đi đôi với truyền thống. Thera (Phạn ngữ sthavira) vừa có nghĩa "vững chắc" vừa có nghĩa "bậc lão thành"; đây là cách dùng xưa nhất của chữ theravāda, trước khi nó trở thành tên một bộ phái Phật giáo.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Không phải chỉ vì lòng tin suông mà Āḷāra Kālāma tuyên bố: 'Ta tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng nghiệm, chứng đắc và an trú.'
[Chú thích: Trong thời Vệ-đà, lòng tin (saddhā, Phạn ngữ śraddhā) được xem là phẩm chất của con tim, nhờ đó người ta nhận được thù lao cho việc tế lễ. Nó giống như lòng tin gửi vào một nơi giữ của: bỏ vốn ra để mong được trả lại.]
Hẳn là Āḷāra Kālāma sống biết và thấy giáo pháp này."
Rồi này các tỳ-kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; đến nơi, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
"Này hiền giả Kālāma, hiền giả tự nhận đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố đến mức nào?"
Khi nghe vậy, này các tỳ-kheo, Āḷāra Kālāma tuyên bố cảnh giới Vô sở hữu xứ.
[Chú thích: Cảnh giới này được xem là tốt nhất trong bốn loại tưởng (AN 10.29:18.1). Kinh điển Phật giáo mô tả đây là môn thiền ưa thích của các ẩn sĩ bà-la-môn. Kaṭha Upaniṣad 1.3.11 cũng nói rằng vượt lên trên Đại ngã, cái không hiển lộ và con người là "không có gì cả", và đó là mục đích tối hậu.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Không phải chỉ Āḷāra Kālāma có lòng tin, Ta cũng có lòng tin;
[Chú thích: Đức Thế Tôn gọi năm phẩm chất này là năm căn (SN 48.10) hay năm lực (AN 5.14). Tất cả, trừ định, đều thường xuất hiện trong văn liệu trước Phật giáo, nhưng không thành một nhóm năm; nhóm năm này xuất hiện vài thế kỷ sau trong Yogasūtra 1.20 của Patañjali.]
không phải chỉ Āḷāra Kālāma có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma có chánh niệm, Ta cũng có chánh niệm;
không phải chỉ Āḷāra Kālāma có định, Ta cũng có định;
[Chú thích: Việc nhắc đến định cho thấy bốn tầng thiền-na đã được tu tập trước đó. Các tầng vô sắc là những tầng thiền tiệm tiến (AN 9.32), đạt được nhờ quá trình diệt dần (AN 9.31); tuy không có sắc, chúng vẫn nương vào sắc (SN 14.11:3.3).]
không phải chỉ Āḷāra Kālāma có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy thì Ta hãy nỗ lực chứng nghiệm giáo pháp mà Āḷāra Kālāma tự nhận đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, không bao lâu, Ta đã tự mình chứng biết giáo pháp ấy bằng thắng trí, chứng nghiệm, chứng đắc và an trú.
[Chú thích: Cách nói này lặp lại một phần mô tả quả vị A-la-hán (MN 85:51.12).]
Rồi này các tỳ-kheo, Ta đi đến chỗ Āḷāra Kālāma; đến nơi, Ta nói với Āḷāra Kālāma:
"Này hiền giả Kālāma, có phải hiền giả đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố đến mức ấy?"
[Chú thích: Sau khi đạt được trạng thái ấy, Āḷāra Kālāma với tư cách bậc thầy "tuyên bố" nó, còn Bồ-tát thì "an trú" trong đó.]
"Đến mức ấy, này hiền giả, Ta đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố."
"Này hiền giả, Ta cũng đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và an trú đến mức ấy."
"Thật là lợi ích cho chúng ta, này hiền giả, thật là khéo được cho chúng ta, này hiền giả!"
"Chúng ta được thấy một vị đồng phạm hạnh như Ngài.
Giáo pháp mà Ta tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố, thì hiền giả cũng tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú.
Giáo pháp mà hiền giả tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú, thì Ta cũng tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố.
Như vậy, giáo pháp Ta biết thì hiền giả biết, giáo pháp hiền giả biết thì Ta biết.
[Chú thích: Gần như nguyên văn những lời này đã được Pokkharasāti nói với học trò Ambaṭṭha (DN 3:1.3.2). Điều này cho thấy việc nâng đỡ một học trò tài giỏi như vậy là cách làm quen thuộc của các bà-la-môn khôn ngoan.]
Như vậy, Ta thế nào thì hiền giả thế ấy, hiền giả thế nào thì Ta thế ấy.
Nào, này hiền giả, cả hai chúng ta hãy cùng dẫn dắt hội chúng này."
[Chú thích: Lời mời này cho thấy sự độ lượng và khiêm nhường của ông.]
Này các tỳ-kheo, như vậy Āḷāra Kālāma, tuy là thầy của Ta, đã đặt Ta, học trò của ông, ngang hàng với chính ông, và tôn kính Ta bằng sự tôn kính lớn lao.
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Giáo pháp này không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến sự ly tham, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự an tịnh, không dẫn đến sự chứng biết, không dẫn đến sự giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn; nó chỉ dẫn đến tái sinh trong cảnh giới Vô sở hữu xứ."
[Chú thích: Giáo pháp ấy không đáp ứng yêu cầu của "sự tìm cầu cao quý". Các phép tu của Govinda (DN 19:50.9), Mātaṅga (Snp 1.7:27.6) và Maghadeva (MN 83:21.7) trong kinh cũng chỉ dẫn đến tái sinh trong cõi Phạm Thiên.]
Này các tỳ-kheo, Ta thấy giáo pháp ấy không đủ, nên nhàm chán và rời bỏ nó.
Này các tỳ-kheo, Ta đi tìm cái gì là thiện, tìm cầu trạng thái an tịnh tối thượng, nên đi đến chỗ Uddaka Rāmaputta (Ưu-đà-la La-ma-tử); đến nơi, Ta nói với Uddaka Rāmaputta:
[Chú thích: Giáo lý của Uddaka được nhắc ở SN 35.103:1.1 và DN 29:16.13. AN 10.29:20.1 ngụ ý ông dạy về "sự thanh tịnh tối hậu của thần linh". Uddaka có lẽ là vị "ẩn sĩ Rāmaputta" được vua kính trọng, bị một số bà-la-môn chê bai nhưng được Todeyya bênh vực.]
"Này hiền giả, tôi muốn sống đời phạm hạnh trong giáo pháp và giới luật này."
[Chú thích: Khác với Āḷāra Kālāma, ở đây tên ông không được nhắc.]
Khi nghe vậy, này các tỳ-kheo, Uddaka Rāmaputta nói với Ta:
"Xin hiền giả cứ ở lại đây.
Giáo pháp này là như vậy, người hiểu biết không bao lâu sẽ tự mình chứng biết giáo pháp của thầy mình bằng thắng trí, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, không bao lâu, Ta đã học thuộc giáo pháp ấy một cách nhanh chóng.
Này các tỳ-kheo, chỉ với chừng ấy, chỉ bằng việc đọc trên môi, chỉ bằng việc lặp lại bằng lời, Ta đã nói được những lời của sự hiểu biết và những lời của truyền thống bậc trưởng lão, Ta tự nhận biết và thấy, và những người khác cũng vậy.
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Không phải chỉ vì lòng tin suông mà Rāma tuyên bố: 'Ta tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng nghiệm, chứng đắc và an trú.'
[Chú thích: Văn bản chuyển từ Rāmaputta sang chỉ Rāma, đồng thời đổi sang thì quá khứ; Uddaka là "con trai của Rāma". Chi tiết này được giữ đáng tin trong các bản khác nhau. Có vẻ Rāmaputta chưa tự mình đạt được tầng thiền mà ông đang dạy, điều này cũng giải thích vì sao ông mời Bồ-tát dẫn dắt hội chúng thay vì cùng chia sẻ như Āḷāra Kālāma.]
Hẳn là Rāma sống biết và thấy giáo pháp này."
Rồi này các tỳ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Rāmaputta; đến nơi, Ta nói với Uddaka Rāmaputta:
"Này hiền giả, Rāma đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố đến mức nào?"
Khi nghe vậy, này các tỳ-kheo, Uddaka Rāmaputta tuyên bố cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
[Chú thích: Trong Bṛhadāraṇyaka Upaniṣad 2.4.12 và 4.5.13, hiền triết Yājñavalkya nói rằng tự ngã chân thật là một khối "thức" thuần túy, và sau khi chứng biết điều đó thì không còn "tưởng". Đoạn ấy có lẽ đã khơi ra cuộc đối thoại ở DN 9:6.4, nơi Đức Thế Tôn nói về việc luyện tưởng. Điểm chính là các ẩn sĩ bà-la-môn thuộc truyền thống Yājñavalkya quả có mô tả trạng thái cao nhất của họ bằng ngôn ngữ tưởng.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Không phải chỉ Rāma có lòng tin, Ta cũng có lòng tin;
không phải chỉ Rāma có tinh tấn, Ta cũng có tinh tấn;
không phải chỉ Rāma có chánh niệm, Ta cũng có chánh niệm;
không phải chỉ Rāma có định, Ta cũng có định;
không phải chỉ Rāma có tuệ, Ta cũng có tuệ.
Vậy thì Ta hãy nỗ lực chứng nghiệm giáo pháp mà Rāma tự nhận đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, không bao lâu, Ta đã tự mình chứng biết giáo pháp ấy bằng thắng trí, chứng nghiệm, chứng đắc và an trú.
Rồi này các tỳ-kheo, Ta đi đến chỗ Uddaka Rāmaputta; đến nơi, Ta nói với Uddaka Rāmaputta:
"Này hiền giả, có phải Rāma đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố đến mức ấy?"
"Đến mức ấy, này hiền giả, Rāma đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố."
"Này hiền giả, Ta cũng đã tự mình chứng biết giáo pháp này bằng thắng trí, chứng đắc và an trú đến mức ấy."
"Thật là lợi ích cho chúng ta, này hiền giả, thật là khéo được cho chúng ta, này hiền giả!
Chúng ta được thấy một vị đồng phạm hạnh như Ngài.
Giáo pháp mà Rāma đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố, thì hiền giả cũng tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú.
Giáo pháp mà hiền giả tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và an trú, thì Rāma đã tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng đắc và tuyên bố.
Như vậy, giáo pháp Rāma đã biết rõ thì hiền giả biết, giáo pháp hiền giả biết thì Rāma đã biết rõ.
Như vậy, Rāma thế nào thì hiền giả thế ấy, hiền giả thế nào thì Rāma thế ấy.
Nào, này hiền giả, hiền giả hãy dẫn dắt hội chúng này."
Này các tỳ-kheo, như vậy Uddaka Rāmaputta, tuy chỉ là người đồng phạm hạnh với Ta, đã đặt Ta vào vị trí bậc thầy và tôn kính Ta bằng sự tôn kính lớn lao.
[Chú thích: Ācariya là vị thầy gắn bó lâu dài với học trò, đến mức học trò được gọi là antevāsī, nghĩa đen là "người sống trong nhà" thầy. Cách dùng này có nguồn gốc từ truyền thống bà-la-môn, nơi mẹ, cha và thầy là ba bậc đáng kính, và được giữ nguyên trong kinh và luật Phật giáo.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Giáo pháp này không dẫn đến sự nhàm chán, không dẫn đến sự ly tham, không dẫn đến sự chấm dứt, không dẫn đến sự an tịnh, không dẫn đến sự chứng biết, không dẫn đến sự giác ngộ, không dẫn đến Niết-bàn; nó chỉ dẫn đến tái sinh trong cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ."
Này các tỳ-kheo, Ta thấy giáo pháp ấy không đủ, nên nhàm chán và rời bỏ nó.
Này các tỳ-kheo, Ta đi tìm cái gì là thiện, tìm cầu trạng thái an tịnh tối thượng, tuần tự du hành qua xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), và đến xóm Senānigama ở Uruvelā (Ưu-lâu-tần-loa).
[Chú thích: Ngày nay đây là thánh tích Bodhgaya thuộc huyện Gaya, bang Bihar, bên một con sông rộng về mùa mưa. Uruvelā nghĩa là "bờ rộng", là một vùng quanh thị trấn chợ Senānigama. Gần đó có một tịnh xá lớn của các ẩn sĩ bện tóc (jaṭilā) thường tắm rửa trong nước.]
Ở đó Ta thấy một vùng đất khả ái, một khu rừng thanh nhã, một con sông chảy trong, nước sạch, bờ bằng phẳng, dễ chịu, và quanh đó có một làng để khất thực.
[Chú thích: Việc Đức Thế Tôn từ chối dục lạc không ngăn Ngài thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Vùng đất này thật khả ái thay, khu rừng thật thanh nhã, con sông chảy trong, nước sạch, bờ bằng phẳng, dễ chịu, và quanh đó có một làng để khất thực."
Thật đủ cho một người con trai thiện gia muốn nỗ lực, để dấn thân nỗ lực.
[Chú thích: Padhāna nghĩa là "nỗ lực"; từ này thường chỉ việc chuyên tâm hành thiền, nhưng ở đây nó dẫn vào lối nỗ lực khổ hạnh đau đớn (MN 36:20.7).]
Này các tỳ-kheo, Ta ngồi ngay tại đó, với ý nghĩ:
"Nơi đây đủ để nỗ lực tu tập."
Này các tỳ-kheo, Ta, bản thân mang bản chất sinh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sinh, đi tìm cầu cái không còn sinh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và Ta đã chứng đạt cái không còn sinh ấy; bản thân mang bản chất già, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất già, đi tìm cầu cái không còn già, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và Ta đã chứng đạt cái không còn già ấy; bản thân mang bản chất bệnh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất bệnh, đi tìm cầu cái không còn bệnh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và Ta đã chứng đạt cái không còn bệnh ấy; bản thân mang bản chất chết, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất chết, Ta đã chứng đạt sự thoát khỏi cái chết, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất sầu, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sầu, Ta đã chứng đạt cái không còn sầu, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn; bản thân mang bản chất nhiễm ô, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất nhiễm ô, đi tìm cầu cái không còn nhiễm ô, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và Ta đã chứng đạt cái không còn nhiễm ô ấy.
[Chú thích: Đoạn này bỏ qua giai đoạn Ngài thực hành khổ hạnh ở Uruvelā, mà các bài khác kể khá dài (MN 36:16.7, MN 85:15.1).]
Tri và kiến khởi lên nơi Ta:
"Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là kiếp sống cuối cùng; từ nay không còn tái sinh nữa."
[Chú thích: Đây là sự chứng ngộ quả vị A-la-hán. Ở các bài khác, Đức Thế Tôn kể chi tiết hơn quá trình hành thiền dẫn đến điểm này.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Pháp này Ta đã chứng đạt thật sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, cao quý, vượt khỏi phạm vi lý luận, tinh tế, chỉ người trí mới hiểu được.
[Chú thích: Một đoạn tương tự được kể về Đức Thế Tôn ở SN 6.1:1.4, MN 85:43.2 và Kd 1:5.2.2, và về bậc Giác ngộ Vipassī ở DN 14:3.1.4.]
Nhưng chúng sinh này ưa thích sự níu giữ, say mê sự níu giữ, hoan hỷ với sự níu giữ.
Với chúng sinh ưa thích sự níu giữ, say mê sự níu giữ, hoan hỷ với sự níu giữ, thật khó thấy chỗ này, đó là: sự tùy thuộc theo điều kiện, lý duyên khởi.
[Chú thích: Đức Thế Tôn chỉ ra hai đề tài khó nhất trong giáo lý của Ngài: lý duyên khởi và Niết-bàn.]
Và chỗ này cũng thật khó thấy, đó là: sự lắng dịu mọi hành, sự từ bỏ mọi bám víu, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự chấm dứt, Niết-bàn.
Nếu Ta thuyết Pháp mà người khác không hiểu Ta, thì đó là sự mệt mỏi cho Ta, là sự phiền toái cho Ta."
[Chú thích: Cho đến đây, Bồ-tát chỉ nghĩ đến việc tìm ra câu trả lời cho sự tìm cầu của mình, và chỉ bây giờ mới nghĩ đến việc chia sẻ cho người khác. Ý niệm rằng từ rất lâu xa Ngài đã phát nguyện giác ngộ vì muốn cứu độ mọi chúng sinh không được kinh điển sớm ủng hộ.]
Này các tỳ-kheo, rồi những bài kệ này, không do phép lạ nào mà có, cũng chưa từng được nghe trước đây, khởi lên nơi Ta:
Ta đã khó nhọc mới chứng được pháp này,
nay chẳng cần phải công bố làm gì;
những kẻ chìm trong tham và sân,
không thể hiểu nổi pháp này.
Pháp này đi ngược dòng, tinh tế,
sâu xa, khó thấy, vi tế;
kẻ đắm trong tham không thấy được,
vì bị khối tối tăm che phủ.
Này các tỳ-kheo, khi Ta quán xét như vậy, tâm Ta nghiêng về sự yên lặng, không nghiêng về việc thuyết Pháp.
[Chú thích: Nếu Ngài theo khuynh hướng ấy thì Ngài đã thành một bậc giác ngộ cho riêng mình, không thuyết Pháp cho người khác.]
Này các tỳ-kheo, rồi Phạm Thiên Sahampati, biết được tâm và ý nghĩ của Ta, khởi lên ý nghĩ:
[Chú thích: Sahampati xuất hiện nhiều trong kinh nhưng không có vị thần nào tên ấy trong văn liệu bà-la-môn sớm. Ông dường như là bản Phật giáo của Phạm Thiên Svayambhū, "Đấng Tự sinh", mà Yājñavalkya truy nguyên thẩm quyền truyền thừa của mình. Danh hiệu "Đấng Tự sinh" (sayambhū) về sau được dùng cho Đức Thế Tôn.]
"Than ôi, thế gian này sẽ mất đi, thế gian này sẽ diệt vong! Vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, lại nghiêng về sự yên lặng, không nghiêng về việc thuyết Pháp."
[Chú thích: Sau khi vượt qua những ẩn sĩ bà-la-môn vĩ đại nhất, thành tựu của Đức Thế Tôn được chính vị thần tối cao của bà-la-môn công nhận.]
Này các tỳ-kheo, rồi Phạm Thiên Sahampati, như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co hay co cánh tay đang duỗi, biến mất khỏi cõi Phạm Thiên và hiện ra trước mặt Ta cũng như vậy.
Rồi Phạm Thiên Sahampati đắp y qua một bên vai, chắp tay hướng về Ta và nói:
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Thế Tôn thuyết Pháp; xin bậc Thiện thệ thuyết Pháp.
Có những chúng sinh ít bụi trong mắt, nhưng vì không được nghe Pháp nên đang thối lui.
Sẽ có những người hiểu được Pháp."
[Chú thích: Sahampati là vị nhận ra tiềm năng nơi mọi chúng sinh, vì chính ông đã ban cho chúng sinh phần thần linh. Ông làm việc ấy để giữ quyền thống trị, nhưng nay động cơ đã chuyển thành lòng thương.]
Này các tỳ-kheo, Phạm Thiên Sahampati nói như vậy.
Nói xong, ông nói thêm:
Thuở xưa, trong xứ Magadha đã xuất hiện,
một giáo pháp không trong sạch, do những kẻ ô uế nghĩ ra;
[Chú thích: Theo chú giải, "giáo pháp không trong sạch" là giáo lý của sáu vị đạo sư ngoại đạo, những người thường gắn với xứ Magadha. Ít có khả năng hơn là nó chỉ các thầy bà-la-môn như Āḷāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta, vốn gắn với Kosala và có hệ thống được truyền lại chứ không phải nghĩ ra.]
hãy mở toang cánh cửa thoát khỏi cái chết này,
[Chú thích: Amata (Phạn ngữ amṛta) là một thuật ngữ bà-la-môn nữa được Đức Thế Tôn chuyển nghĩa. Trong Vệ-đà, nó nghĩa là "bất tử", và do đó là "cam lộ" soma nhờ đó đạt được bất tử. Với Đức Thế Tôn, như chính sự tìm cầu cao quý cho thấy, đó là sự thoát khỏi vòng sinh, già, chết.]
Hãy để họ nghe Pháp mà bậc không còn ô nhiễm đã tự mình giác ngộ.
Như người đứng trên đỉnh núi đá,
có thể nhìn thấy dân chúng khắp chung quanh;
cũng vậy, này bậc trí tuệ, lầu đài làm bằng Pháp,
này bậc nhìn khắp, hãy bước lên,
này bậc đã hết sầu, hãy nhìn dân chúng đang chìm trong sầu,
đang bị sinh và già chế ngự.
Hãy đứng dậy, này bậc anh hùng, bậc chiến thắng trận chiến,
[Chú thích: Ở đây có thể thấy vang vọng nguồn gốc võ biền của Sahampati.]
bậc dẫn đường cho đoàn lữ hành, không còn mắc nợ, hãy đi khắp thế gian;
[Chú thích: "Bậc dẫn đường cho đoàn lữ hành" (satthavāha) là người dẫn đoàn đi qua sa mạc hiểm trở (DN 23:23.3). Anaṇa, "không mắc nợ", là thuật ngữ Vệ-đà: người xuất gia phải trả xong ba món nợ là học Vệ-đà, sinh con trai và dâng tế lễ, và Đức Thế Tôn đã trả xong cả ba. Trong Phật giáo, khái niệm này được hiểu lại là đã buông bỏ mọi phiền não, thành bậc xứng đáng (A-la-hán).]
xin Đức Thế Tôn thuyết Pháp,
sẽ có những người hiểu được.
Này các tỳ-kheo, rồi Ta, sau khi biết lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và vì lòng thương xót chúng sinh, dùng mắt của bậc Giác ngộ nhìn khắp thế gian.
Này các tỳ-kheo, trong khi dùng mắt của bậc Giác ngộ nhìn khắp thế gian, Ta thấy chúng sinh có ít bụi trong mắt và có nhiều bụi trong mắt, căn cơ bén nhạy và căn cơ chậm lụt, tư chất tốt và tư chất xấu, dễ hiểu và khó hiểu; một số sống thấy được sự nguy hiểm của lỗi lầm liên quan đến đời sau, một số không thấy.
[Chú thích: Ở đây indriya mang nghĩa "tiềm năng tâm linh". Nguyên nghĩa của nó là năng lượng phấn chấn do soma tạo ra, giúp Indra bộc lộ toàn bộ sức mạnh. Nó nối lại với năm phẩm chất mà Đức Thế Tôn thấy nơi các thầy của mình, sau này thành "các căn".]
Ví như trong một ao có hoa sen xanh, hoa sen hồng hay hoa sen trắng: có những hoa sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, chìm dưới nước và nuôi mình trong nước; có những hoa sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn tới mặt nước và đứng ngang mặt nước; có những hoa sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không bị nước thấm ướt.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, trong khi dùng mắt của bậc Giác ngộ nhìn khắp thế gian, Ta thấy chúng sinh có ít bụi trong mắt và có nhiều bụi trong mắt, căn cơ bén nhạy và căn cơ chậm lụt, tư chất tốt và tư chất xấu, dễ hiểu và khó hiểu; một số sống thấy được sự nguy hiểm của lỗi lầm liên quan đến đời sau, một số không thấy.
Này các tỳ-kheo, rồi Ta đáp lời Phạm Thiên Sahampati bằng bài kệ:
Cửa thoát khỏi cái chết đã mở toang cho họ,
ai có tai để nghe, hãy đem lòng tin ra mà đón nhận;
[Chú thích: Cụm pamuñcantu saddhaṁ từ lâu làm khó các dịch giả, vì pamuñcantu căn bản nghĩa là "buông ra, phóng thích". Các bản Phạn có dị bản là pramodantu ("hãy hoan hỷ") hay praṇudantu kāṅkṣāḥ ("hãy xua tan hoài nghi"). Có lẽ đây là biến thể thi ca của adhimuñcantu, "quyết định, đặt lòng tin".]
vì nghĩ rằng sẽ là phiền toái, này Phạm Thiên, Ta đã không thuyết
Pháp vi diệu ấy cho loài người.
Này các tỳ-kheo, rồi Phạm Thiên Sahampati, biết rằng mình đã được Đức Thế Tôn cho cơ hội thuyết Pháp, đảnh lễ Ta, đi vòng quanh theo phía phải rồi biến mất ngay tại chỗ.
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên?
Ai sẽ hiểu được Pháp này một cách nhanh chóng?"
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Āḷāra Kālāma này là người thông minh, khéo léo, có trí tuệ, đã lâu có ít bụi trong mắt.
Vậy thì Ta hãy thuyết Pháp cho Āḷāra Kālāma trước tiên.
Ông ấy sẽ hiểu được Pháp này một cách nhanh chóng."
Này các tỳ-kheo, rồi một vị chư thiên đi đến chỗ Ta và nói:
"Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kālāma đã qua đời bảy ngày trước."
Tri và kiến khởi lên nơi Ta:
"Āḷāra Kālāma đã qua đời bảy ngày trước."
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Thật là một mất mát lớn cho Āḷāra Kālāma.
Nếu ông ấy được nghe Pháp này, hẳn ông ấy đã hiểu được nhanh chóng."
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên?
Ai sẽ hiểu được Pháp này một cách nhanh chóng?"
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Uddaka Rāmaputta này là người thông minh, khéo léo, có trí tuệ, đã lâu có ít bụi trong mắt.
Vậy thì Ta hãy thuyết Pháp cho Uddaka Rāmaputta trước tiên.
Ông ấy sẽ hiểu được Pháp này một cách nhanh chóng."
Này các tỳ-kheo, rồi một vị chư thiên đi đến chỗ Ta và nói:
"Bạch Thế Tôn, Uddaka Rāmaputta đã qua đời đêm qua."
Tri và kiến khởi lên nơi Ta:
"Uddaka Rāmaputta đã qua đời đêm qua."
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Thật là một mất mát lớn cho Uddaka Rāmaputta.
Nếu ông ấy được nghe Pháp này, hẳn ông ấy đã hiểu được nhanh chóng."
[Chú thích: Dù đoạn này rõ ràng được tô đậm để tăng kịch tính, việc hai vị ấy đã qua đời cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Đã nhiều năm kể từ khi Đức Thế Tôn học với họ, và lúc ấy họ có lẽ đã già, như sự sốt sắng muốn nhận Siddhattha làm người kế vị có thể cho thấy.]
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Ta nên thuyết Pháp cho ai trước tiên?
Ai sẽ hiểu được Pháp này một cách nhanh chóng?"
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Nhóm năm tỳ-kheo này đã giúp Ta rất nhiều; họ đã hầu hạ Ta trong thời gian Ta dấn thân nỗ lực.
[Chú thích: Nhóm năm vị xuất hiện đột ngột ở đây, và lý do cho cách cư xử của họ chỉ rõ trong các bản kể đầy đủ hơn (MN 36:33.4, MN 85:33.4, MN 100:30.5). Lời khen của Đức Thế Tôn dành cho họ dè dặt hơn lời khen dành cho các thầy bà-la-môn, cho thấy Ngài quý trọng thiền định cao hơn khổ hạnh. Tên các vị được liệt kê trong Luật: Koṇḍañña, Vappa, Bhaddiya, Mahānāma và Assaji (Kd 1:6.31.6).]
Vậy thì Ta hãy thuyết Pháp cho nhóm năm tỳ-kheo trước tiên."
Này các tỳ-kheo, Ta khởi lên ý nghĩ:
"Hiện nay nhóm năm tỳ-kheo ấy đang trú ở đâu?"
Này các tỳ-kheo, bằng thiên nhãn thanh tịnh siêu vượt loài người, Ta thấy nhóm năm tỳ-kheo ấy đang trú ở Bārāṇasī (Ba-la-nại), trong vườn nai Isipatana (Lộc Uyển).
Này các tỳ-kheo, rồi Ta ở lại Uruvelā bao lâu tùy ý, rồi lên đường đi đến Bārāṇasī.
[Chú thích: Một số bài khác kể thêm chi tiết trong thời gian này (SN 47.43, Ud 1.3 đến 1.4, và những bài khác).]
Này các tỳ-kheo, du sĩ Ājīvaka Upaka thấy Ta đang đi trên đường giữa Gayā (Già-da) và Bodhi (Bồ-đề).
[Chú thích: Về phái Ājīvaka, xem MN 5:31.7 và DN 2:20.2. Upaka chỉ gặp ở đây; tên ông có nghĩa là "gần tới". Nơi giác ngộ được gọi là bodhi; hai nơi cách nhau khoảng hai mươi cây số.]
Thấy vậy, ông ấy nói với Ta:
"Này hiền giả, các căn của Ngài thật trong sáng, nước da thật thanh tịnh, sáng ngời.
[Chú thích: Ở đây "các căn" chỉ những nét thấy được như đôi mắt sáng. So với Chāndogya Upaniṣad 4.14.2, nơi gương mặt người học trò được thấy là sáng rực nhờ những hiểu biết mới đạt được.]
Này hiền giả, Ngài xuất gia theo ai? Ai là thầy của Ngài? Ngài tin nhận giáo pháp của ai?"
Này các tỳ-kheo, khi nghe vậy, Ta đáp lời du sĩ Ājīvaka Upaka bằng kệ:
Ta là bậc chiến thắng tất cả, biết tất cả,
không bị một pháp nào làm ô nhiễm;
Ta đã từ bỏ tất cả, giải thoát nhờ tham ái đoạn tận,
Ta tự mình chứng biết; ai mà Ta phải theo?
Ta không có thầy,
không có ai giống Ta;
trong thế gian cùng chư thiên,
không có ai ngang bằng Ta.
Vì trong thế gian này, Ta là bậc A-la-hán;
Ta là bậc thầy tối thượng;
Ta là bậc duy nhất Chánh đẳng giác,
đã nguội mát, đã tịch tịnh.
Để chuyển vận Bánh xe Pháp,
Ta đi đến thành của xứ Kāsi;
trong thế gian đang bị mù,
Ta sẽ đánh trống loan báo sự thoát khỏi cái chết.
[Chú thích: Āhañchaṁ là ngôi thứ nhất, thì tương lai, số ít của āhanati, "đánh, gõ".]
"Theo điều Ngài tự nhận, này hiền giả, Ngài hẳn là bậc Chiến thắng vô hạn."
[Chú thích: "Bậc Chiến thắng vô hạn" (anantajina) không thấy ở nơi khác và có thể là thuật ngữ của phái Ājīvaka. Nó liên hệ với danh hiệu jina của vị thầy Mahāvīra, mà môn đồ của ông là Kỳ-na giáo mang tên ấy. Mahāvīra và Gosāla, người sáng lập phái Ājīvaka, cùng tu tập sáu năm, nên việc họ dùng chung thuật ngữ không có gì lạ.]
Những bậc chiến thắng là những người như Ta,
những người đã đạt đến sự đoạn tận lậu hoặc;
Ta đã chiến thắng mọi pháp ác,
vì vậy này Upaka, Ta là bậc chiến thắng.
Này các tỳ-kheo, khi nghe vậy, du sĩ Ājīvaka Upaka nói: "Nếu Ngài nói vậy, thưa hiền giả," rồi lắc đầu, rẽ vào con đường khác và bỏ đi.
Này các tỳ-kheo, rồi Ta tuần tự du hành và đi đến Bārāṇasī, vườn nai Isipatana, chỗ nhóm năm tỳ-kheo.
Này các tỳ-kheo, nhóm năm tỳ-kheo thấy Ta từ xa đi đến
và dặn nhau:
[Chú thích: Về cụm "họ dặn nhau" (aññamaññaṁ saṇṭhapesuṁ), xem AN 10.93:2.4.]
"Này hiền giả, sa-môn Gotama đang đi đến. Ông ta là kẻ buông thả, đã rời bỏ sự nỗ lực, quay trở lại với sự buông thả.
Chúng ta không nên đảnh lễ ông ta, không nên đứng dậy đón ông ta, không nên nhận bát và y của ông ta.
Nhưng chúng ta có thể dọn ra một chỗ ngồi; nếu ông ta muốn thì cứ ngồi."
Này các tỳ-kheo, nhưng càng đến gần, nhóm năm tỳ-kheo càng không thể giữ được giao kèo của chính họ.
Có vị ra đón Ta, nhận bát và y; có vị trải chỗ ngồi; có vị lấy nước rửa chân.
Tuy vậy, họ vẫn gọi Ta bằng tên và bằng tiếng "hiền giả".
[Chú thích: Cách gọi ấy thích hợp khi một vị lớn tuổi nói với người trẻ hơn (DN 16:6.2.2).]
Này các tỳ-kheo, khi ấy Ta nói với nhóm năm tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, chớ gọi Như Lai bằng tên và bằng tiếng "hiền giả".
Này các tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Hãy lắng tai nghe, này các tỳ-kheo: sự thoát khỏi cái chết đã được chứng đắc. Ta sẽ chỉ dạy các ông, Ta sẽ thuyết Pháp cho các ông.
Thực hành đúng như lời chỉ dạy, không bao lâu các ông sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng nghiệm ngay trong đời này cứu cánh tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con trai thiện gia chân chính rời bỏ gia đình, sống đời không nhà hướng đến, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, khi nghe vậy, nhóm năm tỳ-kheo nói với Ta:
"Này hiền giả Gotama, dù với cách sống ấy, cách thực hành ấy, sự khổ hạnh khó làm ấy, ông đã không đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh. Huống chi bây giờ ông đã buông thả, rời bỏ sự nỗ lực, quay lại với sự buông thả, làm sao ông đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh?"
[Chú thích: Ở MN 12:56.1 và MN 85:51.7, "cách thực hành ấy" chỉ những khổ hạnh vừa được mô tả. Cùng với chỗ nhảy đột ngột ở MN 26:18.1 và việc nhắc đến nhóm năm vị ở MN 26:24.5, có thể đoạn về khổ hạnh đã được lược bỏ để tập trung vào bối cảnh bà-la-môn.]
Này các tỳ-kheo, khi ấy Ta nói với nhóm năm tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, Như Lai không buông thả, không rời bỏ sự nỗ lực, không quay trở lại với sự buông thả.
Này các tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Hãy lắng tai nghe, này các tỳ-kheo: sự thoát khỏi cái chết đã được chứng đắc. Ta sẽ chỉ dạy các ông, Ta sẽ thuyết Pháp cho các ông.
Thực hành đúng như lời chỉ dạy, không bao lâu các ông sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng nghiệm ngay trong đời này cứu cánh tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con trai thiện gia chân chính rời bỏ gia đình, sống đời không nhà hướng đến, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, lần thứ hai, nhóm năm tỳ-kheo nói với Ta:
"Này hiền giả Gotama, dù với cách sống ấy, cách thực hành ấy, sự khổ hạnh khó làm ấy, ông đã không đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh. Huống chi bây giờ ông đã buông thả, rời bỏ sự nỗ lực, quay lại với sự buông thả, làm sao ông đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh?"
Này các tỳ-kheo, lần thứ hai, Ta nói với nhóm năm tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, Như Lai không buông thả, không rời bỏ sự nỗ lực, không quay trở lại với sự buông thả. Này các tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác. Hãy lắng tai nghe, này các tỳ-kheo: sự thoát khỏi cái chết đã được chứng đắc. Ta sẽ chỉ dạy các ông, Ta sẽ thuyết Pháp cho các ông. Thực hành đúng như lời chỉ dạy, không bao lâu các ông sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng nghiệm ngay trong đời này cứu cánh tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con trai thiện gia chân chính rời bỏ gia đình, sống đời không nhà hướng đến,
chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, lần thứ ba, nhóm năm tỳ-kheo nói với Ta:
"Này hiền giả Gotama, dù với cách sống ấy, cách thực hành ấy, sự khổ hạnh khó làm ấy, ông đã không đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh. Huống chi bây giờ ông đã buông thả, rời bỏ sự nỗ lực, quay lại với sự buông thả, làm sao ông đạt được pháp siêu vượt loài người, sự thù thắng của tri và kiến xứng đáng bậc thánh?"
Này các tỳ-kheo, khi ấy Ta nói với nhóm năm tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, các ông có từng biết Ta nói như vậy trước đây chưa?"
"Bạch Thế Tôn, không."
[Chú thích: Ở đây họ dùng cách gọi kính trọng hơn là bhante, "bạch Ngài".]
"Này các tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác.
Hãy lắng tai nghe, này các tỳ-kheo: sự thoát khỏi cái chết đã được chứng đắc. Ta sẽ chỉ dạy các ông, Ta sẽ thuyết Pháp cho các ông.
Thực hành đúng như lời chỉ dạy, không bao lâu các ông sẽ tự mình chứng biết bằng thắng trí, chứng nghiệm ngay trong đời này cứu cánh tối thượng của đời sống phạm hạnh, mục đích mà những người con trai thiện gia chân chính rời bỏ gia đình, sống đời không nhà hướng đến, chứng đắc và an trú."
Này các tỳ-kheo, Ta đã có thể thuyết phục được nhóm năm tỳ-kheo.
[Chú thích: Một lần nữa câu chuyện lại có chỗ nhảy. Ở đây Đức Thế Tôn đã thuyết "Kinh Chuyển Pháp Luân" (SN 56.11). Toàn bộ diễn tiến được kể trong Luật (Kd 1:6.16.9).]
Này các tỳ-kheo, khi ấy Ta khuyên dạy hai vị tỳ-kheo, ba vị còn lại đi khất thực.
Này các tỳ-kheo, thức ăn mà ba vị đi khất thực mang về đủ nuôi sáu người chúng ta.
Này các tỳ-kheo, khi ấy Ta khuyên dạy ba vị tỳ-kheo, hai vị còn lại đi khất thực.
Này các tỳ-kheo, thức ăn mà hai vị đi khất thực mang về đủ nuôi sáu người chúng ta.
Này các tỳ-kheo, rồi nhóm năm tỳ-kheo, được Ta khuyên dạy và chỉ dẫn như vậy, tự thân mang bản chất sinh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sinh, đã tìm cầu cái không còn sinh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt cái không còn sinh ấy; tự thân mang bản chất già, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất già, đã tìm cầu cái không còn già, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt cái không còn già ấy; tự thân mang bản chất bệnh, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất bệnh, đã tìm cầu cái không còn bệnh, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt cái không còn bệnh ấy; tự thân mang bản chất chết, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất chết, đã tìm cầu sự thoát khỏi cái chết, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt sự thoát khỏi cái chết ấy; tự thân mang bản chất sầu, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất sầu, đã tìm cầu cái không còn sầu, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt cái không còn sầu ấy; tự thân mang bản chất nhiễm ô, sau khi thấy rõ sự nguy hại trong cái mang bản chất nhiễm ô, đã tìm cầu cái không còn nhiễm ô, nơi an ổn tối thượng thoát khỏi mọi ách trói, tức Niết-bàn, và đã chứng đạt cái không còn nhiễm ô ấy.
Tri và kiến khởi lên nơi họ:
"Sự giải thoát của chúng ta là bất động; đây là kiếp sống cuối cùng; từ nay không còn tái sinh nữa."
[Chú thích: Điều này xảy ra khi Đức Thế Tôn thuyết "Kinh Vô Ngã Tướng" (SN 22.59).]
Này các tỳ-kheo, có năm loại dục lạc này.
[Chú thích: Đức Thế Tôn trở lại cách dạy trực tiếp cho các tỳ-kheo ở tịnh xá của Rammaka một cách khá đột ngột. Đề tài này nhắc lại ví dụ khúc gỗ có nhựa, tuy không có ở đây, nhưng ở MN 36:17.1 được giới thiệu khi Bồ-tát bắt đầu nỗ lực ở Uruvelā.]
Năm là những gì?
Các sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng yêu, vừa ý, dễ thương, liên hệ đến dục, khơi dậy tham,
các âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng yêu, vừa ý, dễ thương, liên hệ đến dục, khơi dậy tham,
các mùi hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng yêu, vừa ý, dễ thương, liên hệ đến dục, khơi dậy tham,
các vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng yêu, vừa ý, dễ thương, liên hệ đến dục, khơi dậy tham,
các xúc do thân nhận biết, khả ái, đáng yêu, vừa ý, dễ thương, liên hệ đến dục, khơi dậy tham.
Này các tỳ-kheo, đây là năm loại dục lạc.
Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục lạc này trong khi bị trói buộc, say mê, chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí hiểu sự xuất ly, thì nên biết về họ như vầy:
[Chú thích: paribhuñjati vừa có nghĩa "thọ hưởng cho thỏa thích" vừa có nghĩa "tìm thấy sự thích thú trong đó", gần như chữ "enjoys" trong tiếng Anh.]
"Họ đã gặp tai họa, đã gặp thảm họa, và Ác ma có thể làm với họ điều mình muốn."
Ví như, này các tỳ-kheo, một con nai hoang trong rừng bị mắc bẫy, đang nằm trên đống bẫy.
[Chú thích: Hình ảnh này và bài giảng theo sau nối bài kinh này với bài trước.]
Về nó nên biết như vầy:
"Nó đã gặp tai họa, đã gặp thảm họa, và người thợ săn có thể làm với nó điều mình muốn.
Khi người thợ săn đến, nó không thể chạy trốn đến nơi mình muốn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục lạc này trong khi bị trói buộc, say mê, chìm đắm, không thấy sự nguy hại, không có trí hiểu sự xuất ly, thì nên biết về họ như vầy:
"Họ đã gặp tai họa, đã gặp thảm họa, và Ác ma có thể làm với họ điều mình muốn."
Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục lạc này mà không bị trói buộc, không say mê, không chìm đắm, thấy được sự nguy hại, có trí hiểu sự xuất ly, thì nên biết về họ như vầy:
"Họ không gặp tai họa, không gặp thảm họa, và Ác ma không thể làm với họ điều mình muốn."
Ví như, này các tỳ-kheo, một con nai hoang trong rừng không bị mắc bẫy, đang nằm trên đống bẫy.
Về nó nên biết như vầy:
"Nó không gặp tai họa, không gặp thảm họa, và người thợ săn không thể làm với nó điều mình muốn.
Khi người thợ săn đến, nó có thể chạy trốn đến nơi mình muốn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào thọ hưởng năm loại dục lạc này mà không bị trói buộc, không say mê, không chìm đắm, thấy được sự nguy hại, có trí hiểu sự xuất ly, thì nên biết về họ như vầy:
"Họ không gặp tai họa, không gặp thảm họa, và Ác ma không thể làm với họ điều mình muốn."
Ví như, này các tỳ-kheo, một con nai hoang trong rừng đi lại trong rừng và khu rừng, đi với sự an tâm, đứng với sự an tâm, ngồi với sự an tâm, nằm xuống với sự an tâm.
Vì sao vậy?
Vì nó đã đi ra ngoài tầm với của người thợ săn.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú tầng thiền thứ nhất, với tầm và tứ, với hỷ và lạc do ly dục sinh.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo do lắng dịu tầm và tứ, chứng đạt và an trú tầng thiền thứ hai, với sự thanh tịnh nội tâm, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, với hỷ và lạc do định sinh.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo do ly hỷ, an trú xả, có niệm và tỉnh giác, thân cảm nhận được lạc, chứng đạt và an trú tầng thiền thứ ba, điều mà các bậc thánh nói là "xả, có niệm, sống an lạc".
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo do đoạn trừ lạc và khổ, do sự chấm dứt của hỷ và ưu trước đó, chứng đạt và an trú tầng thiền thứ tư, không khổ không lạc, với xả và niệm thanh tịnh.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn các sắc tưởng, chấm dứt các tưởng đối kháng, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng đắc và an trú Không vô biên xứ, với ý nghĩ: "Hư không là vô biên."
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, chứng đắc và an trú Thức vô biên xứ, với ý nghĩ: "Thức là vô biên."
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng đắc và an trú Vô sở hữu xứ, với ý nghĩ: "Không có gì cả."
[Chú thích: Đoạn này và đoạn sau xác nhận rằng những môn thiền học được nơi Āḷāra Kālāma và Uddaka Rāmaputta đã được Đức Thế Tôn tiếp nhận như một phần trong sự thực hành của Ngài.]
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng đắc và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Lại nữa, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đắc và an trú sự chấm dứt của tưởng và thọ; và nhờ tuệ, sau khi thấy rõ, các lậu hoặc của vị ấy được đoạn tận.
Này các tỳ-kheo, đây gọi là vị tỳ-kheo đã làm mù Ma vương, xóa hết dấu vết, đi đến chỗ Ác ma không còn thấy được.
Vị ấy đã vượt qua sự dính mắc vào thế gian, đi với sự an tâm, đứng với sự an tâm, ngồi với sự an tâm, nằm xuống với sự an tâm.
Vì sao vậy?
Vì vị ấy đã đi ra ngoài tầm với của Ác ma.
Đức Thế Tôn nói như vậy.
Các tỳ-kheo ấy hoan hỷ, tán thán lời Ngài dạy.
Bài kinh Pāsarāsi, bài thứ sáu, đã hoàn thành.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.