buppou

Trung Bộ Kinh · bài 79/152

Tiểu Kinh Sakuludāyi

Cūḷasakuludāyisutta

38 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh diễn ra tại Rājagaha, thủ đô của vương quốc Magadha. Vào một buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát đi vào thành khất thực, nhưng thấy trời còn quá sớm, nên Ngài rẽ vào khu vườn của các du sĩ ở Moranivāpa, chỗ nuôi dưỡng chim công. "Du sĩ" là những người tu hành lang thang, sống bằng khất thực, không thuộc Tăng đoàn của Đức Thế Tôn; họ lập ra nhiều giáo phái với những thuyết riêng, và thường tranh luận với nhau về ai hiểu biết hơn ai. Ở khu vườn ấy, du sĩ Sakuludāyī đang ngồi giữa một hội chúng đông đảo.

Cảnh tượng đầu tiên khá đời thường: hội chúng ấy ồn ào, bàn đủ thứ chuyện thế tục, từ chuyện vua chúa, chiến tranh đến chuyện ăn mặc, xe cộ. Khi thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến, Sakuludāyī vội bảo mọi người im lặng, vì ông biết bậc tu hành này ưa sự yên tĩnh. Đức Thế Tôn hỏi họ đang bàn chuyện gì. Sakuludāyī khéo léo gạt đi, rồi kể một điều đáng chú ý: khi ông không có mặt, hội chúng này nói chuyện tầm phào; khi ông đến, họ ngồi nhìn lên mặt ông để nghe; còn khi Đức Thế Tôn đến, cả ông lẫn hội chúng đều nhìn lên mặt Ngài.

Câu chuyện thật sự bắt đầu từ một chuyện mấy ngày trước. Có người tự nhận là bậc biết hết, thấy hết, biết và thấy mọi điều không sót, kể cả khi đang đi, đang đứng, đang ngủ hay đang thức. Nhưng khi Sakuludāyī hỏi ông ta một câu về khởi điểm của vũ trụ và con người, ông ta lảng sang chuyện khác và tỏ vẻ bực bội. Người ấy là Nigaṇṭha Nātaputta, giáo chủ phái Ni-kiền-tử, một giáo phái khổ hạnh nổi tiếng đương thời. Đức Thế Tôn không tranh cãi xem ai đúng ai sai. Ngài chỉ nói: ai nhớ được các đời sống trước, hoặc có thiên nhãn thấy chúng sinh chết và tái sinh, thì có thể hỏi Ta; nhưng hãy gác chuyện đầu mút và cuối mút ấy lại, vì Ta giảng một nguyên lý khác: cái này có mặt thì cái kia có mặt; cái này sinh khởi thì cái kia sinh khởi.

Sau đó, Sakuludāyī xin được trả lời về giáo phái của mình. Thuyết của họ gọn một câu: "Đây là sắc tối thượng." Đức Thế Tôn hỏi: vậy sắc ấy là gì? Ông chỉ lặp lại câu cũ. Ngài bèn đưa một ví dụ: có người nói anh ta muốn "người đẹp nhất trong xứ", nhưng khi được hỏi người ấy thuộc dòng nào, tên gì, cao thấp ra sao, da màu gì, ở làng nào, thì anh ta đều trả lời không biết. Rồi Ngài dẫn Sakuludāyī qua một thang bậc ánh sáng: viên ngọc bích, con đom đóm, ngọn đèn dầu, đám lửa lớn, ngôi sao mai, mặt trăng rằm, mặt trời giữa trưa. Mỗi lần, ông đều chọn cái sáng hơn. Đến cuối, Ngài nói: còn có những vị trời mà ánh sáng mặt trời, mặt trăng không sánh tới, nhưng Ta không vì thế mà tuyên bố "không có sắc nào cao hơn"; còn ông thì gọi thứ kém hơn cả con đom đóm là "sắc tối thượng" mà không mô tả được nó. Sakuludāyī thốt lên: "Đức Thế Tôn đã cắt ngang cuộc đàm luận!"

Thuyết thứ hai cũng bị hỏi tới cùng như vậy. Giáo phái ấy nói có một thế giới an lạc tuyệt đối và có con đường tu tập để chứng nghiệm nó; cách tu của họ là giữ bốn giới căn bản là không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, cộng thêm một phép khổ hạnh nào đó. Đức Thế Tôn hỏi: vào lúc ấy, tự ngã của người ấy có hoàn toàn an lạc không? Câu trả lời là không, vì vẫn có cả vui lẫn khổ. Một con đường vừa vui vừa khổ thì không thể dẫn đến nơi hoàn toàn an lạc. Nhưng lần này, Ngài xác nhận: có thế giới ấy, và có con đường ấy. Con đường là bốn tầng thiền-na, tức bốn tầng định ngày càng sâu và trong sáng; đến tầng thứ tư thì hành giả ở cùng, trò chuyện với các vị trời đã sinh vào thế giới an lạc ấy.

Sakuludāyī liền nghĩ rằng các tỳ-kheo hẳn tu vì thế giới ấy. Đức Thế Tôn nói không phải, vì còn những pháp cao hơn và vi diệu hơn. Rồi Ngài giảng con đường đầy đủ: khi một bậc Như Lai xuất hiện trên đời, có người nghe Pháp, có lòng tin, rời nhà xuất gia, giữ giới, hộ trì các giác quan, tu tập chánh niệm tỉnh giác, sống nơi vắng vẻ, từ bỏ năm triền cái, chứng bốn tầng thiền-na, rồi lần lượt nhớ lại các đời sống trước, thấy chúng sinh chết và tái sinh theo nghiệp của mình, và đoạn tận các lậu hoặc ngay trong đời này. Nghe xong, Sakuludāyī xin quy y và xin xuất gia. Nhưng chính hội chúng của ông phản đối: một người đã từng làm thầy thì đừng đi làm học trò, và nếu làm vậy thì khác nào cái ghè đựng nước biến thành cái gáo múc nước. Họ ngăn ông lại, và bài kinh kết thúc ở đó, không có cuộc hoán cải nào. Với người đọc hôm nay, bài kinh là một lời nhắc rất đơn giản: một lý thuyết chỉ đứng vững khi trả lời được câu hỏi "vậy cái ấy là gì?", còn con đường của Đức Thế Tôn thì không đòi tin trước, mà đòi tự mình đi và tự mình thấy.

[Chú thích của người dịch: Sakuludāyī là tên riêng của vị du sĩ, nên được giữ nguyên dạng Pali. Bài kinh này chỉ xuất hiện một lần trong Trung Bộ Kinh; cùng vị du sĩ ấy còn xuất hiện trong Trung Bộ Kinh 77.]

Cūḷasakuludāyisutta — bài kinh mang tên du sĩ Sakuludāyī, ghi lại cuộc đàm luận ở khu vườn nuôi dưỡng chim công, trong đó Đức Thế Tôn phá tan hai quan niệm của giáo phái du sĩ về "sắc tối thượng" và "thế giới an lạc tuyệt đối", rồi giảng con đường thực hành đưa đến giải thoát thật sự


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá), trong rừng tre Veḷuvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivāpa).

Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī trú tại Moranivāpa, khu vườn của các du sĩ, chỗ nuôi dưỡng chim công, cùng với một hội chúng du sĩ đông đảo.

Rồi vào buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, cầm bát, đi vào Rājagaha để khất thực.

Rồi Đức Thế Tôn khởi lên ý nghĩ:

"Còn quá sớm để đi khất thực trong Rājagaha.

Vậy Ta hãy đến khu vườn của các du sĩ ở Moranivāpa, chỗ du sĩ Sakuludāyī."

Rồi Đức Thế Tôn đi đến khu vườn của các du sĩ ở Moranivāpa.

Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludāyī đang ngồi với một hội chúng du sĩ đông đảo, ồn ào, náo nhiệt, bàn đủ thứ chuyện thấp hèn, đó là:

chuyện vua chúa, chuyện trộm cướp, chuyện đại thần, chuyện binh lính, chuyện sợ hãi, chuyện chiến tranh, chuyện ăn, chuyện uống, chuyện y phục, chuyện giường nằm, chuyện vòng hoa, chuyện hương thơm, chuyện bà con, chuyện xe cộ, chuyện làng mạc, chuyện thị trấn, chuyện thành phố, chuyện quốc độ, chuyện đàn bà, chuyện anh hùng, chuyện ngoài đường phố, chuyện chỗ đặt chum nước, chuyện người đã khuất, chuyện tạp nhạp, chuyện kể về thế giới, chuyện kể về biển cả, chuyện đời này hay đời khác.

Du sĩ Sakuludāyī thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến.

Thấy vậy, ông bảo hội chúng của mình giữ trật tự:

"Xin các ngài hãy yên lặng, xin các ngài đừng làm ồn.

Sa-môn Gotama đang đi đến;

vị tôn giả ấy ưa yên lặng và tán thán sự yên lặng.

Biết đâu khi thấy hội chúng yên lặng, vị ấy sẽ nghĩ là nên đến gần."

Rồi các du sĩ ấy im lặng.

Rồi Đức Thế Tôn đi đến chỗ du sĩ Sakuludāyī.

Du sĩ Sakuludāyī thưa với Đức Thế Tôn:

"Xin mời Đức Thế Tôn đến, thưa Ngài.

Đức Thế Tôn đến đây là điều lành, thưa Ngài.

Đã lâu rồi, thưa Ngài, Đức Thế Tôn mới tạo ra dịp này, tức là việc đến đây.

Xin Đức Thế Tôn ngồi xuống, thưa Ngài;

chỗ ngồi này đã được sắp đặt sẵn."

Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã được sắp đặt.

Du sĩ Sakuludāyī lấy một chỗ ngồi thấp rồi ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn nói với du sĩ Sakuludāyī đang ngồi một bên:

"Này Udāyi, các ông vừa ngồi bàn chuyện gì, và câu chuyện còn dở dang giữa các ông là gì?"

"Thưa Ngài, xin để đó câu chuyện mà chúng con vừa ngồi bàn.

Chuyện ấy, thưa Ngài, Đức Thế Tôn sẽ không khó nghe về sau.

Thưa Ngài, khi con không đến gần hội chúng này, thì hội chúng này ngồi bàn đủ thứ chuyện thấp hèn;

còn khi con đến gần hội chúng này, thì hội chúng này chỉ ngồi ngước nhìn lên mặt con, nghĩ rằng:

[Chú thích: Cách ngồi ngước nhìn lên mặt người nói như thế này cũng xuất hiện trong Tương Ưng Bộ Kinh 56.39; ở Trường Bộ Kinh 2, đó là thái độ của người hầu đối với vua.]

'Bài pháp nào sa-môn Udāyī nói, chúng ta sẽ nghe bài pháp ấy';

[Chú thích: Cũng lời ấy được dùng cho hội chúng của Đức Thế Tôn trong Trung Bộ Kinh 77, nhưng với thái độ khác: hội chúng của Ngài chờ đợi háo hức, còn hội chúng của Udāyī thì ngước nhìn lên mặt ông ta.]

nhưng khi Đức Thế Tôn đến gần hội chúng này, thì cả con lẫn hội chúng này đều ngồi ngước nhìn lên mặt Đức Thế Tôn, nghĩ rằng:

'Bài pháp nào Đức Thế Tôn nói, chúng ta sẽ nghe bài pháp ấy.'"

"Vậy thì, này Udāyi, ông hãy nêu ra ở đây điều gì đó để hỏi Ta."

"Thưa Ngài, mấy ngày trước, cách đây không lâu, có người tự nhận là bậc biết hết, thấy hết, tự nhận có tri kiến không sót điều gì, rằng: 'Tri kiến luôn luôn và liên tục hiện ra trước mắt tôi, dù tôi đang đi, đang đứng, đang ngủ hay đang thức.'

Khi con hỏi người ấy một câu về khởi điểm ban đầu, người ấy lảng sang chuyện khác, lái câu chuyện ra ngoài, và tỏ ra giận dữ, sân hận, bực bội.

Thưa Ngài, điều ấy khiến con nhớ đến Đức Thế Tôn:

[Chú thích: Bản Mahāsaṅgīti đọc là sati, nghĩa là "nhớ đến"; bản PTS đọc là pīti, nghĩa là "hỷ". Cụm từ này cũng xuất hiện trong Trung Bộ Kinh 89 và Trường Bộ Kinh 9, cả hai lần đều là sati.]

'Hẳn là Đức Thế Tôn, hẳn là bậc Thiện thệ, vị thật khéo léo trong những pháp ấy.'"

"Này Udāyi, người ấy là ai — kẻ tự nhận là bậc biết hết, thấy hết, tự nhận có tri kiến không sót điều gì, rằng: 'Tri kiến luôn luôn và liên tục hiện ra trước mắt tôi, dù tôi đang đi, đang đứng, đang ngủ hay đang thức', kẻ mà khi được ông hỏi một câu về khởi điểm ban đầu đã lảng sang chuyện khác, lái câu chuyện ra ngoài, và tỏ ra giận dữ, sân hận, bực bội?"

"Thưa Ngài, đó là Nigaṇṭha Nātaputta."

[Chú thích: Lời tự nhận ấy cũng được ghi lại ở MN 14:17.2.] [Chú thích của người dịch: Nigaṇṭha Nātaputta, quen gọi là Ni-kiền-tử Nātaputta, là vị giáo chủ của phái Ni-kiền-tử đương thời.]

"Này Udāyi, người nào có thể nhớ lại nhiều đời sống trước — tức là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra — và nhớ lại nhiều đời sống trước với các đặc điểm và chi tiết như vậy, thì người ấy có thể hỏi Ta một câu về khởi điểm ban đầu, hoặc Ta có thể hỏi người ấy một câu về khởi điểm ban đầu;

người ấy có thể làm Ta hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi về khởi điểm ban đầu, hoặc Ta có thể làm người ấy hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi về khởi điểm ban đầu.

Này Udāyi, người nào với thiên nhãn thanh tịnh, siêu hơn mắt người, có thể thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ sinh vào cõi lành, kẻ sinh vào cõi dữ, và hiểu được các chúng sinh đi theo nghiệp của mình, thì người ấy có thể hỏi Ta một câu về điểm tận cùng, hoặc Ta có thể hỏi người ấy một câu về điểm tận cùng;

người ấy có thể làm Ta hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi về điểm tận cùng, hoặc Ta có thể làm người ấy hài lòng bằng cách trả lời câu hỏi về điểm tận cùng.

Dù vậy, này Udāyi, hãy gác lại khởi điểm ban đầu, hãy gác lại điểm tận cùng.

[Chú thích: Pubbanta và aparanta, nghĩa đen là "đầu mút trước" và "đầu mút sau", là thuật ngữ chỉ những suy đoán về khởi điểm của vòng luân hồi và về điểm tận cùng của nó. Ở đây Đức Thế Tôn nói đến những suy đoán không có căn cứ về thuở khởi đầu và ngày tận thế, chứ không phải chuyện quá khứ hay tương lai thông thường.]

Ta sẽ giảng Pháp cho ông:

khi cái này có mặt thì cái kia có mặt; do cái này sinh khởi mà cái kia sinh khởi;

[Chú thích: Ở đây Đức Thế Tôn không tự nhận thấy mọi sự kiện và chi tiết, mà Ngài thấu hiểu nguyên lý nằm dưới toàn bộ khổ đau.]

khi cái này không có mặt thì cái kia không có mặt; do cái này diệt mà cái kia diệt."


"Thưa Ngài, con còn không thể nhớ lại được với đầy đủ đặc điểm và chi tiết những gì con đã trải qua trong thân này,

[Chú thích: Attabhāva, nghĩa đen là "trạng thái tự ngã", ở đây chỉ thân xác mà thức đã nhập vào, tức là đời sống hiện tại.]

huống chi con có thể nhớ lại nhiều đời sống trước — một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra — nhớ lại nhiều đời sống trước với đầy đủ đặc điểm và chi tiết như Đức Thế Tôn?

Thưa Ngài, hiện giờ con còn không thấy được một con yêu tinh bùn,

[Chú thích: Paṁsupisācaka là một loại yêu tinh nhỏ được cho là sống trong bụi đất, cũng được nhắc đến trong Kinh Phật tự thuyết 4.4 thuộc Tiểu Bộ Kinh.]

huống chi con có thể với thiên nhãn thanh tịnh, siêu hơn mắt người, thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ sinh vào cõi lành, kẻ sinh vào cõi dữ, và hiểu được các chúng sinh đi theo nghiệp của mình, như Đức Thế Tôn?

Nhưng còn điều Đức Thế Tôn đã nói với con:

'Dù vậy, này Udāyi, hãy gác lại khởi điểm ban đầu, hãy gác lại điểm tận cùng.

Ta sẽ giảng Pháp cho ông:

khi cái này có mặt thì cái kia có mặt; do cái này sinh khởi mà cái kia sinh khởi;

khi cái này không có mặt thì cái kia không có mặt; do cái này diệt mà cái kia diệt.' Nhưng điều ấy đối với con lại càng mờ mịt hơn.

Biết đâu, thưa Ngài, con có thể làm Đức Thế Tôn hài lòng bằng cách trả lời một câu hỏi về giáo phái của con."

"Nhưng này Udāyi, giáo phái của các ông nói thế nào?"

"Thưa Ngài, giáo phái của chúng con nói như vầy:

'Đây là sắc tối thượng, đây là sắc tối thượng.'"

[Chú thích: Muốn hiểu thêm về thuyết này, xem chú thích ở Trung Bộ Kinh 80.]

"Nhưng này Udāyi, điều mà giáo phái của các ông nói như vầy:

'Đây là sắc tối thượng, đây là sắc tối thượng' — vậy sắc tối thượng ấy là gì?"

"Thưa Ngài, sắc tối thượng là sắc mà không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy."

"Nhưng sắc tối thượng ấy là gì — sắc mà không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy?"

"Thưa Ngài, sắc tối thượng là sắc mà không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy."

"Này Udāyi, câu ấy ông có thể kéo dài mãi:

ông nói 'sắc tối thượng là sắc mà không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy', nhưng ông lại không mô tả sắc ấy.

Ví như, này Udāyi, một người nói như vầy:

'Người đẹp nhất trong xứ này, tôi muốn người ấy, tôi khao khát người ấy.'

Người ta sẽ nói với anh ta:

'Này anh kia, người đẹp nhất trong xứ mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết người ấy thuộc dòng vua chúa, dòng bà-la-môn, dòng thương nhân hay dòng hạ tiện không?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Không.'

Người ta sẽ nói với anh ta:

'Này anh kia, người đẹp nhất trong xứ mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết tên người ấy và dòng họ người ấy không? Người ấy cao, thấp hay vừa tầm? Da người ấy đen, ngăm hay xám xịt? Người ấy ở một làng nào, một thị trấn nào hay một thành phố nào?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Không.'

Người ta sẽ nói với anh ta:

'Này anh kia, người mà anh không biết, không thấy, lại là người anh muốn, anh khao khát sao?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Đúng vậy.'

Này Udāyi, ông nghĩ sao —

như vậy thì lời nói của người ấy có phải là lời không có căn cứ chứng minh chăng?"

"Thưa Ngài, đúng vậy, như vậy thì lời nói của người ấy quả thật là lời không có căn cứ chứng minh."

"Cũng vậy, này Udāyi, ông nói 'sắc tối thượng là sắc mà không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy', nhưng ông lại không mô tả sắc ấy."

"Thưa Ngài, ví như một viên ngọc bích trong sáng, loại quý, tám cạnh, được mài giũa khéo léo, đặt trên một tấm nỉ màu vàng nhạt, thì chiếu sáng, toả sáng và rực sáng. Tự ngã sau khi chết, không còn bệnh, có sắc như vậy."

[Chú thích: Câu nói về "sắc của tự ngã sau khi chết" không có trong bản Hán tương đương, Trung A-hàm 208.]

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa viên ngọc bích trong sáng, loại quý, tám cạnh, được mài giũa khéo léo, đặt trên tấm nỉ màu vàng nhạt, chiếu sáng, toả sáng và rực sáng, với con đom đóm trong đêm tối mịt mùng — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"

"Thưa Ngài, sắc của con đom đóm trong đêm tối mịt mùng là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa con đom đóm trong đêm tối mịt mùng với ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"

"Thưa Ngài, sắc của ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng với đám lửa lớn trong đêm tối mịt mùng — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"

"Thưa Ngài, sắc của đám lửa lớn trong đêm tối mịt mùng là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa đám lửa lớn trong đêm tối mịt mùng với ngôi sao mai trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, lúc rạng đông — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"

"Thưa Ngài, sắc của ngôi sao mai trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, lúc rạng đông là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa ngôi sao mai trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, lúc rạng đông với mặt trăng tròn giữa đêm trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, vào đêm rằm là ngày trai giới — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"


"Thưa Ngài, sắc của mặt trăng tròn giữa đêm trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, vào đêm rằm là ngày trai giới là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

giữa mặt trăng tròn giữa đêm trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, vào đêm rằm là ngày trai giới với mặt trời giữa trưa trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, vào tháng cuối của mùa mưa, tiết thu — trong hai sắc ấy, sắc nào cao hơn và vi diệu hơn?"

"Thưa Ngài, sắc của mặt trời giữa trưa trên bầu trời quang đãng, không một gợn mây, vào tháng cuối của mùa mưa, tiết thu là sắc cao hơn và vi diệu hơn trong hai sắc ấy."

"Này Udāyi, vượt khỏi chừng ấy, có rất nhiều vị trời, nhiều hơn thế nữa, mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời không thể sánh tới; Ta biết những vị ấy.

[Chú thích: Cụm ābhā nānubhonti, nghĩa là "ánh sáng không ảnh hưởng tới", được chú giải là "không tham dự vào ánh sáng". Cách nói này cũng xuất hiện trong Tăng Chi Bộ Kinh 4.127, nói về cõi mà ánh sáng mặt trời không chiếu tới.]

Nhưng Ta không nói:

'Không có sắc nào khác cao hơn hay vi diệu hơn sắc ấy.'

Còn ông, này Udāyi, lại nói về sắc thấp kém hơn và đáng chê hơn cả sắc của con đom đóm rằng 'đó là sắc tối thượng', mà ông lại không mô tả sắc ấy."

"Đức Thế Tôn đã cắt ngang cuộc đàm luận! Bậc Thiện thệ đã cắt ngang cuộc đàm luận!"

"Nhưng này Udāyi, vì sao ông lại nói:

'Đức Thế Tôn đã cắt ngang cuộc đàm luận! Bậc Thiện thệ đã cắt ngang cuộc đàm luận!'?"

"Thưa Ngài, giáo phái của chúng con nói như vầy:

'Đây là sắc tối thượng, đây là sắc tối thượng.'

Nhưng khi Đức Thế Tôn truy vấn, gạn hỏi, chất vấn chúng con về giáo phái của mình, thì chúng con hóa ra trống rỗng, rỗng tuếch và sai lầm."

"Nhưng này Udāyi, có một thế giới an lạc tuyệt đối chăng? Có một con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối chăng?"

"Thưa Ngài, giáo phái của chúng con nói như vầy:

'Có một thế giới an lạc tuyệt đối, và có một con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối.'"

"Nhưng này Udāyi, con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối ấy là gì?"

"Thưa Ngài, ở đây có người từ bỏ sát sinh, xa lìa sát sinh; từ bỏ trộm cắp, xa lìa trộm cắp; từ bỏ tà hạnh trong các dục, xa lìa tà hạnh trong các dục; từ bỏ nói dối, xa lìa nói dối; và thọ trì một phép khổ hạnh nào đó mà sống.

[Chú thích: Chữ vā ở đây nối tiếp ý, nghĩa là "và", chứ không phải "hoặc".]

Thưa Ngài, đó là con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

vào lúc có người từ bỏ sát sinh, xa lìa sát sinh, thì tự ngã của người ấy lúc ấy hoàn toàn an lạc, hay là có cả lạc và khổ?"

"Thưa Ngài, có cả lạc và khổ."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

vào lúc có người từ bỏ trộm cắp, xa lìa trộm cắp, thì tự ngã của người ấy lúc ấy hoàn toàn an lạc, hay là có cả lạc và khổ?"

"Thưa Ngài, có cả lạc và khổ."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao, vào lúc có người từ bỏ tà hạnh trong các dục, xa lìa tà hạnh trong các dục, thì tự ngã của người ấy lúc ấy hoàn toàn an lạc, hay là có cả lạc và khổ?"

"Thưa Ngài, có cả lạc và khổ."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao, vào lúc có người từ bỏ nói dối, xa lìa nói dối, thì tự ngã của người ấy lúc ấy hoàn toàn an lạc, hay là có cả lạc và khổ?"

"Thưa Ngài, có cả lạc và khổ."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

vào lúc có người thọ trì một phép khổ hạnh nào đó mà sống, thì tự ngã của người ấy lúc ấy hoàn toàn an lạc, hay là có cả lạc và khổ?"

"Thưa Ngài, có cả lạc và khổ."

"Này Udāyi, ông nghĩ sao,

nương vào một con đường thực hành có lạc và khổ xen lẫn, liệu có chứng nghiệm được thế giới an lạc tuyệt đối chăng?"

"Đức Thế Tôn đã cắt ngang cuộc đàm luận! Bậc Thiện thệ đã cắt ngang cuộc đàm luận!"

"Nhưng này Udāyi, vì sao ông lại nói:

'Đức Thế Tôn đã cắt ngang cuộc đàm luận! Bậc Thiện thệ đã cắt ngang cuộc đàm luận!'?"

"Thưa Ngài, giáo phái của chúng con nói như vầy:

'Có một thế giới an lạc tuyệt đối, và có một con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối.'

[Chú thích: Ākāravatī paṭipadā, "con đường thực hành có căn cứ", dùng cùng một tính từ với ākāravatī saddhā, "lòng tin có căn cứ", trong Trung Bộ Kinh 47 và Trung Bộ Kinh 60.]

Nhưng khi Đức Thế Tôn truy vấn, gạn hỏi, chất vấn chúng con về giáo phái của mình, thì chúng con hóa ra trống rỗng, rỗng tuếch và sai lầm."

"Nhưng thưa Ngài, có một thế giới an lạc tuyệt đối chăng? Có một con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối chăng?"

"Này Udāyi, có một thế giới an lạc tuyệt đối, và có một con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối."

"Nhưng thưa Ngài, con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối ấy là gì?"

"Này Udāyi, ở đây một tỳ-kheo ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra;

do tầm và tứ lắng yên, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra;

do ly hỷ, vị ấy sống xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc, chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh nói là 'sống xả, có chánh niệm, an trú trong lạc' —

này Udāyi, đó là con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối."

"Thưa Ngài, đó không phải là con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối; vì đến chừng ấy thì thế giới an lạc tuyệt đối đã được chứng nghiệm rồi."

"Này Udāyi, đến chừng ấy thì thế giới an lạc tuyệt đối chưa được chứng nghiệm."


"Nhưng đó chính là con đường thực hành có căn cứ để chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối."

Khi Ngài nói vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyī nổi lên ồn ào, gào thét, làm om sòm:

"Thế là chúng ta tiêu rồi, cả thầy lẫn trò! Thế là chúng ta tiêu rồi, cả thầy lẫn trò!

Chúng ta không biết gì cao hơn chỗ này nữa."

Rồi du sĩ Sakuludāyī làm cho các du sĩ ấy yên lặng, rồi thưa với Đức Thế Tôn:

"Nhưng thưa Ngài, đến mức nào thì thế giới an lạc tuyệt đối được chứng nghiệm?"

"Này Udāyi, ở đây một tỳ-kheo do xả lạc và xả khổ, do hỷ và ưu đã lắng xuống từ trước, chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Những vị trời nào đã sinh vào thế giới an lạc tuyệt đối, vị ấy ở cùng, trò chuyện, đàm đạo với những vị trời ấy.

Này Udāyi, đến mức ấy thì thế giới an lạc tuyệt đối được chứng nghiệm."

"Hẳn là các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn là vì mục đích chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối ấy?"

"Này Udāyi, không phải vì mục đích chứng nghiệm thế giới an lạc tuyệt đối ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Này Udāyi, có những pháp khác cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm những pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta."

"Nhưng thưa Ngài, những pháp cao hơn và vi diệu hơn ấy là gì, mà chính vì mục đích chứng nghiệm chúng mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn?"

"Này Udāyi, ở đây Như Lai xuất hiện trong thế gian, là bậc A-la-hán, Chánh đẳng giác, đầy đủ minh và hạnh, bậc Thiện thệ, bậc thấu hiểu thế gian, bậc tối thượng dẫn dắt những người cần được điều ngự, bậc thầy của trời và người, bậc Giác ngộ, bậc Thế Tôn. Ngài tự mình chứng biết bằng thắng trí thế giới này — với chư thiên, Ma vương và Phạm Thiên, với chúng sa-môn, bà-la-môn, trời và người — rồi công bố cho người khác. Ngài thuyết Pháp tốt đẹp ở đầu, tốt đẹp ở giữa, tốt đẹp ở cuối, có nghĩa, có văn; Ngài công bố đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Một gia chủ, hay con một gia chủ, hay một người sinh ra trong một gia đình nào đó nghe Pháp ấy. Sau khi nghe, người ấy có được lòng tin nơi Như Lai. Người ấy suy nghĩ như vầy: 'Đời sống tại gia thì chật hẹp, là đường bụi bặm; đời sống xuất gia thì rộng mở. Người sống ở nhà không dễ gì thực hành đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn trong sạch, như vỏ ốc đã được đánh bóng. Vậy sao ta không cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà?' Rồi sau một thời gian, người ấy từ bỏ một khối tài sản nhỏ hay lớn, từ bỏ một vòng thân quyến nhỏ hay lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, rời bỏ gia đình, sống đời không nhà. Sau khi xuất gia như vậy, người ấy thọ trì học giới và cách sống của các tỳ-kheo: từ bỏ sát sinh, xa lìa sát sinh, buông bỏ gậy gộc và vũ khí, biết hổ thẹn, có lòng thương, sống đầy lòng từ bi đối với mọi chúng sinh; từ bỏ trộm cắp, xa lìa trộm cắp, chỉ nhận những gì được cho, chỉ mong những gì được cho, sống trong sạch, không gian tham; từ bỏ phi phạm hạnh, sống đời phạm hạnh, sống xa cách, tránh xa việc dâm dục thấp hèn; từ bỏ nói dối, xa lìa nói dối, nói thật, gắn với sự thật, đáng tin cậy, không lừa gạt thế gian; từ bỏ nói hai lưỡi, xa lìa nói hai lưỡi, nghe ở đây không đem đến chỗ kia để chia rẽ những người này, nghe ở chỗ kia không đem đến đây để chia rẽ những người kia, hoà hợp những kẻ đã chia rẽ, khích lệ những người đã hoà hợp, ưa thích hoà hợp, vui với hoà hợp, nói những lời tạo ra hoà hợp; từ bỏ nói lời thô ác, xa lìa nói lời thô ác, nói những lời dịu dàng, dễ nghe, đáng yêu, đi vào lòng người, lịch sự, được nhiều người ưa thích, nhiều người vừa ý; từ bỏ nói lời phù phiếm, xa lìa nói lời phù phiếm, nói đúng lúc, nói sự thật, nói có ý nghĩa, nói đúng Pháp, nói đúng Luật, nói những lời đáng ghi nhớ, có căn cứ, có giới hạn, đem lại lợi ích, đúng thời. Người ấy tránh phá hoại các hạt giống và cây cỏ, ăn một bữa trong ngày, không ăn ban đêm, tránh ăn phi thời, tránh xem múa hát, âm nhạc và các buổi trình diễn, tránh mang vòng hoa, hương liệu, phấn son và các thứ trang sức, tránh giường cao và giường lớn, tránh nhận vàng và bạc, tránh nhận hạt giống còn sống, tránh nhận thịt sống, tránh nhận đàn bà và con gái, tránh nhận nô tỳ trai và gái, tránh nhận dê và cừu, tránh nhận gà và heo, tránh nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái, tránh nhận ruộng đất và đất đai, tránh làm sứ giả và đi lại đưa tin, tránh mua bán, tránh gian lận với cân, tiền và thước đo, tránh các nghề uốn éo, lừa đảo và gian trá, tránh chặt cắt, giết, trói, cướp giật, cướp phá, chặn đường, vào nhà cướp bóc. Người ấy biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng; đi đâu cũng chỉ mang theo những thứ ấy; như con chim, dù bay đi đâu cũng chỉ mang theo đôi cánh, cũng vậy, người ấy biết đủ với y phục che thân và đồ ăn khất thực nuôi bụng, đi đâu cũng chỉ mang theo những thứ ấy. Với khối giới cao thượng ấy, người ấy cảm nhận niềm vui trong sạch bên trong. Khi mắt thấy sắc, người ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng; vì nếu không hộ trì nhãn căn, các pháp xấu ác, tham lam và ưu não sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành hộ trì nhãn căn, gìn giữ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc chạm, ý nhận biết pháp, người ấy không nắm bắt tướng chung, không nắm bắt tướng riêng; vì nếu không hộ trì ý căn, các pháp xấu ác, tham lam và ưu não sẽ tràn vào, nên người ấy thực hành hộ trì ý căn, gìn giữ ý căn. Với sự hộ trì các căn cao thượng ấy, người ấy cảm nhận niềm vui không uế nhiễm bên trong. Người ấy tỉnh giác khi đi tới, đi lui; tỉnh giác khi nhìn trước, nhìn sau; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay; tỉnh giác khi mang y, bát và các vật dụng; tỉnh giác khi ăn, uống, nhai, nếm; tỉnh giác khi đại tiện, tiểu tiện; tỉnh giác khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi thức, khi nói, khi im lặng. Với khối giới cao thượng ấy, với sự hộ trì các căn và chánh niệm tỉnh giác ấy, người ấy lui về một chỗ vắng vẻ: rừng, gốc cây, núi đá, hang núi, hốc núi, nghĩa địa, rừng rậm, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, người ấy ngồi kiết già, giữ thân ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt.

[Chú thích của người dịch: Pali ở đây lược một khối văn rất dài bằng dấu peyyāla, từ chỗ Như Lai xuất hiện cho đến việc vị ấy ngồi kiết già với chánh niệm trước mặt. Bản dịch giữ đủ mọi chặng và các câu chốt; bản đầy đủ từng câu của khối văn này có trong Trung Bộ Kinh 38 và Trung Bộ Kinh 51.]

Vị ấy từ bỏ năm triền cái này, những cấu uế của tâm làm yếu ớt tuệ,

rồi ly dục, ly các pháp bất thiện, chứng đạt và an trú thiền-na thứ nhất, có tầm có tứ, có hỷ và lạc do sự ly dục sinh ra.

Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Lại nữa, này Udāyi, do tầm và tứ lắng yên, một tỳ-kheo chứng đạt và an trú thiền-na thứ hai, nội tâm thanh tịnh, tâm chuyên nhất, không tầm không tứ, có hỷ và lạc do định sinh ra;

do ly hỷ, vị ấy sống xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm nhận lạc, chứng đạt và an trú thiền-na thứ ba, mà các bậc thánh nói là 'sống xả, có chánh niệm, an trú trong lạc';

do xả lạc và xả khổ, do hỷ và ưu đã lắng xuống từ trước, vị ấy chứng đạt và an trú thiền-na thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí nhớ về các đời sống trước.

Vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau, như là một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra: 'Ở đời ấy, ta có tên như vầy, dòng dõi như vầy, màu da như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ khổ vui như vầy, tuổi thọ như vầy; từ đó ta chết đi và sinh ra ở đời kia; ở đời kia, ta lại có tên như vầy, dòng dõi như vầy, màu da như vầy, thức ăn như vầy, cảm thọ khổ vui như vầy, tuổi thọ như vầy; từ đó ta chết đi và sinh ra ở đời này.' Như vậy, vị ấy nhớ lại nhiều đời sống trước khác nhau với các đặc điểm và chi tiết.

Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí biết sự chết và sự tái sinh của các chúng sinh.

Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu hơn mắt người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, kẻ hạ liệt, người cao quý, kẻ xấu sắc, người đẹp sắc, kẻ sinh vào cõi lành, kẻ sinh vào cõi dữ. Vị ấy biết các chúng sinh là những kẻ đi theo nghiệp: 'Những chúng sinh này đã làm các việc xấu ác về thân, về lời, về ý; đã nói xấu các bậc thánh; có tà kiến, đã thọ trì nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân tan rã, sau khi chết, chúng đã sinh vào cõi khổ, vào đường dữ, vào nơi đoạ lạc, vào địa ngục. Còn những chúng sinh kia đã làm các việc lành về thân, về lời, về ý; đã không nói xấu các bậc thánh; có chánh kiến, đã thọ trì nghiệp theo chánh kiến. Sau khi thân tan rã, sau khi chết, chúng đã sinh vào cõi lành, vào thiên giới, vào thế giới chư thiên.' Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu hơn mắt người, vị ấy thấy các chúng sinh đang chết và đang tái sinh, và biết các chúng sinh là những kẻ đi theo nghiệp.

Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Với tâm đã định như vậy, thanh tịnh, trong sáng, không cấu uế, đã lìa các ô nhiễm, đã trở nên mềm mại, dễ sử dụng, vững vàng, đạt đến bất động, vị ấy hướng tâm đến trí đoạn tận các lậu hoặc.

Vị ấy biết như thật: 'Đây là khổ'; biết như thật: 'Đây là sự tập khởi của khổ'; biết như thật: 'Đây là sự đoạn diệt của khổ'; biết như thật: 'Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của khổ';

biết như thật: 'Đây là các lậu hoặc'; biết như thật: 'Đây là sự tập khởi của các lậu hoặc'; biết như thật: 'Đây là sự đoạn diệt của các lậu hoặc'; biết như thật: 'Đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của các lậu hoặc.'

Với vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu.

Khi đã giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã giải thoát.'

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Này Udāyi, đây cũng là một pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta.

Này Udāyi, đó là những pháp cao hơn và vi diệu hơn; chính vì mục đích chứng nghiệm những pháp ấy mà các tỳ-kheo sống đời phạm hạnh dưới Ta."

Khi Ngài nói vậy, du sĩ Sakuludāyī thưa với Đức Thế Tôn:

"Thật tuyệt vời, thưa Ngài, thật tuyệt vời, thưa Ngài!

Thưa Ngài, ví như có người dựng lại cái đã bị lật ngửa, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc, thắp ngọn đèn dầu trong chỗ tối để những ai có mắt thấy được các hình sắc; cũng vậy, Đức Thế Tôn đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách.

Thưa Ngài, con xin quy y Đức Thế Tôn, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

Thưa Ngài, xin cho con được xuất gia ngay trước mặt Đức Thế Tôn, xin cho con được thọ giới cụ túc."

Khi ông nói vậy, hội chúng của du sĩ Sakuludāyī nói với du sĩ Sakuludāyī:

"Thưa ngài Udāyī, xin ngài đừng sống đời phạm hạnh dưới sa-môn Gotama.

Thưa ngài Udāyī, ngài đã từng là thầy, xin đừng sống như một học trò.

Ví như cái ghè đựng nước lại trở thành cái gáo múc nước, tình cảnh của ngài Udāyī cũng sẽ như vậy.

[Chú thích: Udakamaṇika, "ghè đựng nước", và udañcanika, "gáo múc nước", là hai từ hiếm gặp, và cả hai đều chơi chữ trên tên Udāyī.]

Thưa ngài Udāyī, xin ngài đừng sống đời phạm hạnh dưới sa-môn Gotama;

thưa ngài Udāyī, ngài đã từng là thầy, xin đừng sống như một học trò."

Như vậy là hội chúng của du sĩ Sakuludāyī đã cản trở du sĩ Sakuludāyī sống đời phạm hạnh dưới Đức Thế Tôn.

Tiểu Kinh Sakuludāyi, bài thứ chín, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Dòng kết này là lời ghi của truyền bản Pali, đánh dấu bài kinh thứ chín trong một nhóm bài của bộ kinh, không phải số thứ tự 79 của Trung Bộ Kinh.]

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →