buppou

Trung Bộ Kinh · bài 80/152

Kinh Vekhanasa

Vekhanasasutta

16 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài kinh này ghi lại một cuộc gặp ngắn ở Sāvatthī (Xá-vệ), trong khu vườn rừng Jeta (Kỳ-đà) của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Một người tu khổ hạnh lang thang tên là Vekhanasa đến thăm Đức Thế Tôn. Ông chào hỏi, đứng sang một bên, rồi bỗng thốt lên hai lần: "Đây là vẻ rực rỡ tối thượng." Ông không nói thêm gì, không giải thích, cũng không chỉ ra cái gì đang rực rỡ. Câu chuyện bắt đầu từ chỗ trống ấy.

Vekhanasa thuộc một dòng tu khổ hạnh rất cũ, gốc từ các thi sĩ Vệ-đà của Ấn Độ cổ. Theo chú giải, ông là thầy của du sĩ Sakaludāyī và đến đây để bảo vệ giáo thuyết của mình. Điều ông muốn nói, đại khái, là: sau khi chết, tự ngã, tức cái tôi trường tồn mà ông tin là có thật, không còn bệnh tật và tồn tại trong một vẻ rực rỡ mà không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn. Đó là một niềm tin về cái tuyệt đối, và ông tin rằng nó không cần phải chứng minh.

Đức Thế Tôn không bác bỏ ngay. Ngài hỏi: thế vẻ rực rỡ ấy là gì? Vekhanasa trả lời bằng một vòng tròn: đó là vẻ rực rỡ mà không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn. Ngài hỏi lại, và ông lặp y nguyên câu ấy. Bấy giờ Ngài kể một câu chuyện: có người nói rằng mình muốn người đẹp nhất trong xứ, nhưng khi được hỏi thì không biết người ấy thuộc giai cấp nào, tên gì, dòng họ gì, cao thấp ra sao, da màu gì, ở làng nào. Một lời tuyên bố như vậy, Ngài nói, không có gì để chứng minh. Vekhanasa đồng ý, và lập tức nhận ra đó cũng chính là trường hợp của mình.

Ông bèn đưa ra một hình ảnh: một viên ngọc lưu ly đẹp, tám cạnh, mài giũa kỹ, đặt trên tấm nỉ trắng ngà, sáng ngời và chói lọi; vẻ rực rỡ của tự ngã sau khi chết, không còn bệnh tật, là như vậy. Đức Thế Tôn liền dẫn ông đi từng bậc trên một chiếc thang ánh sáng: viên ngọc ấy so với con đom đóm trong đêm tối thì thế nào? Con đom đóm so với ngọn đèn dầu? Ngọn đèn so với đống lửa lớn? Đống lửa so với sao mai lúc rạng đông? Sao mai so với trăng tròn giữa đêm rằm? Trăng tròn so với mặt trời giữa trưa mùa thu? Mỗi lần, Vekhanasa đều phải thừa nhận cái sau rực rỡ hơn cái trước. Nghĩa là cái mà ông gọi là tối thượng còn thua cả một con đom đóm.

Nhưng Đức Thế Tôn không dừng ở đó. Ngài nói rằng Ngài biết nhiều vị trời mà ánh sáng mặt trời, mặt trăng không chiếu tới; thế mà Ngài không hề tuyên bố rằng không còn vẻ rực rỡ nào cao hơn. Đó là cách Ngài dạy về giới hạn của lời nói: càng nói về cái tuyệt đối bằng những hình ảnh giác quan, người ta càng dễ tự mâu thuẫn. Rồi Ngài chuyển sang cái có thể biết được ngay trong đời này: năm loại dục lạc, tức những hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ưa thích. Lạc thú khởi lên từ chúng gọi là lạc thú của dục; vượt lên trên nó là lạc thú vượt khỏi dục, và câu nói truyền lại gọi đó là tối thượng.

Vekhanasa nghe xong thì hoan hỷ, lặp lại câu nói ấy. Nhưng khi Đức Thế Tôn nói rằng điều này thật khó hiểu với một người có kiến giải và niềm tin khác, và chỉ bậc A-la-hán mới thật sự biết, ông nổi giận. Ông buộc tội Ngài cũng giống như những sa-môn, bà-la-môn khác: không biết đời trước, không thấy đời sau mà dám tuyên bố đã giác ngộ. Đức Thế Tôn đáp lại rất bình thản: hãy gác chuyện quá khứ và tương lai sang một bên, hãy để một người ngay thẳng đến thực hành theo lời chỉ dạy, rồi tự mình biết và tự mình thấy, như đứa bé lớn lên thì những dải vải trói mình tự bung ra. Cuối cùng, Vekhanasa dịu lại, tán thán lời dạy và xin quy y làm người cư sĩ.

Vekhanasasutta — bài kinh về cuộc đối thoại giữa Đức Thế Tôn và du sĩ Vekhanasa, người tuyên bố có một vẻ rực rỡ tối thượng mà không mô tả được vẻ rực rỡ ấy


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Rồi du sĩ Vekhanasa đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, ông chào hỏi và hỏi thăm Ngài.

[Chú thích: Vekhanasa, "hậu duệ của Vikhānasa", theo chú giải là thầy của Sakaludāyī và đến đây để bảo vệ giáo thuyết của mình. Dòng Vekhanasa vốn là những thi sĩ Vệ-đà; về sau, trong các văn bản Sanskrit, họ được biết đến như một dòng khổ hạnh sống trong rừng, và từ đó phát triển thành truyền thống Vaikhānasa thờ Vishnu ngày nay. Bài kinh này có thể là chứng tích sớm nhất về truyền thống khổ hạnh ấy, nối các thi sĩ Vệ-đà với truyền thống về sau; Đức Thế Tôn gọi ông bằng tên cá nhân hay tên thị tộc là Kaccāna.]

Sau khi trao đổi những lời chào hỏi thân thiện và những câu chuyện xã giao, ông đứng sang một bên.

Đứng sang một bên, du sĩ Vekhanasa thốt lên lời cảm khái này trước Đức Thế Tôn:

"Đây là vẻ rực rỡ tối thượng, đây là vẻ rực rỡ tối thượng."

[Chú thích: Trong Rig Veda có hai bài thơ của dòng Vaikhānasa, một bài tả Soma là "rực rỡ nhất", một lối nói gần nghĩa với "vẻ rực rỡ tối thượng" trong tiếng Pali. Bài thơ ấy được ghi là của "một trăm vị Vaikhānasa", cho thấy dòng tu này đã có từ thời đó. Có lẽ dòng Vekhanasa đã xây dựng triết lý của mình từ những bài kệ được tụng qua nhiều thế kỷ, đến mức đối tượng nguyên thủy là Soma đã bị quên đi.]

"Nhưng này Kaccāna, sao ông lại nói rằng:

'Đây là vẻ rực rỡ tối thượng, đây là vẻ rực rỡ tối thượng'?

Vậy này Kaccāna, vẻ rực rỡ tối thượng ấy là gì?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ mà so với nó không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là vẻ rực rỡ tối thượng."

"Nhưng này Kaccāna, vẻ rực rỡ ấy là gì, mà so với nó không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn hay thù thắng hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ mà so với nó không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là vẻ rực rỡ tối thượng."

"Này Kaccāna, lời ấy của ông có thể kéo dài mãi:

ông nói 'thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ mà so với nó không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là vẻ rực rỡ tối thượng', nhưng ông lại không mô tả vẻ rực rỡ ấy.

Ví như, này Kaccāna, có người nói rằng:

'Người đẹp nhất trong xứ này là ai, tôi muốn người ấy, tôi khao khát người ấy.'

Người ta sẽ bảo anh ta:

'Này anh kia, người đẹp nhất trong xứ này mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết người ấy thuộc giai cấp vua chúa, bà-la-môn, thương nhân hay nô lệ không?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Không.'

Người ta sẽ bảo anh ta:

'Này anh kia, người đẹp nhất trong xứ này mà anh muốn, anh khao khát ấy — anh có biết tên và dòng họ của người ấy không? Anh có biết người ấy cao hay thấp hay vừa tầm không? Anh có biết nước da người ấy đen, nâu hay xám xịt không? Anh có biết người ấy ở làng nào, thị trấn nào, thành nào không?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Không.'

Người ta sẽ bảo anh ta:

'Này anh kia, người mà anh không biết, không thấy, mà anh lại muốn, lại khao khát sao?'

Được hỏi vậy, anh ta sẽ đáp: 'Đúng vậy.'

Này Kaccāna, ông nghĩ sao,

như vậy thì lời nói của người ấy hóa ra không có căn cứ chứng minh, phải không?"

"Quả thật vậy, thưa ngài Gotama, như vậy thì lời nói của người ấy hóa ra không có căn cứ chứng minh."

"Cũng vậy, này Kaccāna, ông nói 'thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ mà so với nó không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn hay thù thắng hơn, đó là vẻ rực rỡ tối thượng', nhưng ông lại không mô tả vẻ rực rỡ ấy."

"Thưa ngài Gotama, ví như một viên ngọc lưu ly đẹp, phẩm chất tốt, có tám cạnh, được mài giũa khéo léo, đặt trên tấm nỉ màu trắng ngà, thì nó sáng ngời, chói lọi và rực rỡ. Tự ngã sau khi chết, không còn bệnh tật, có vẻ rực rỡ như vậy."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa viên ngọc lưu ly đẹp, phẩm chất tốt, có tám cạnh, được mài giũa khéo léo, đặt trên tấm nỉ màu trắng ngà, sáng ngời, chói lọi và rực rỡ, với con đom đóm trong đêm tối mịt mùng — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của con đom đóm trong đêm tối mịt mùng thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa con đom đóm trong đêm tối mịt mùng với ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa ngọn đèn dầu trong đêm tối mịt mùng với đống lửa lớn trong đêm tối mịt mùng — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của đống lửa lớn trong đêm tối mịt mùng thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa đống lửa lớn trong đêm tối mịt mùng với sao mai lúc rạng đông, khi trời quang, không mây — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của sao mai lúc rạng đông, khi trời quang, không mây, thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa sao mai lúc rạng đông, khi trời quang, không mây, với mặt trăng tròn lúc nửa đêm ngày rằm, khi trời quang, không mây — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của mặt trăng tròn lúc nửa đêm ngày rằm, khi trời quang, không mây, thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, ông nghĩ sao:

giữa mặt trăng tròn lúc nửa đêm ngày rằm, khi trời quang, không mây, với mặt trời lúc giữa trưa vào tháng cuối mùa mưa, tiết thu, khi trời quang, không mây — trong hai vẻ rực rỡ ấy, vẻ nào thù thắng hơn và cao quý hơn?"

"Thưa ngài Gotama, vẻ rực rỡ của mặt trời lúc giữa trưa vào tháng cuối mùa mưa, tiết thu, khi trời quang, không mây, thù thắng hơn và cao quý hơn vẻ rực rỡ kia."

"Này Kaccāna, vượt ra ngoài chừng ấy, Ta biết có rất nhiều vị trời, nhiều hơn thế nữa, mà ánh sáng của mặt trăng và mặt trời này không hề chiếu tới.

Thế nhưng Ta không nói rằng:

'So với vẻ rực rỡ ấy, không có vẻ rực rỡ nào khác cao hơn và thù thắng hơn.'

Thế nhưng này Kaccāna, ông lại nói rằng 'vẻ rực rỡ nào còn thấp kém hơn và hèn kém hơn cả con đom đóm, thì đó là vẻ rực rỡ tối thượng', mà ông lại không mô tả vẻ rực rỡ ấy.

Này Kaccāna, có năm loại dục lạc.

Năm là những gì?

Những hình sắc do mắt nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, vừa ý, liên hệ đến dục, khêu gợi tham muốn;

những âm thanh do tai nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, vừa ý, liên hệ đến dục, khêu gợi tham muốn;

những mùi hương do mũi nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, vừa ý, liên hệ đến dục, khêu gợi tham muốn;

những vị do lưỡi nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, vừa ý, liên hệ đến dục, khêu gợi tham muốn;

những xúc chạm do thân nhận biết, khả ái, đáng yêu, dễ chịu, vừa ý, liên hệ đến dục, khêu gợi tham muốn —

này Kaccāna, đó là năm loại dục lạc.

Này Kaccāna, lạc thú và niềm vui nào khởi lên nhờ năm loại dục lạc này, cái ấy được gọi là lạc thú của dục.

Như vầy: 'Từ dục mà có lạc thú của dục; từ lạc thú của dục mà có lạc thú vượt khỏi dục — chính lạc thú ấy được gọi là tối thượng.'"

[Chú thích: Cách mở đầu bằng "iti", nghĩa là "người ta nói vậy", cho thấy Đức Thế Tôn đang trích dẫn một câu nói có thể không phải do Ngài đặt ra. Chú giải định nghĩa "lạc thú vượt khỏi dục" là Niết-bàn, điều này giải thích vì sao ở dưới Đức Thế Tôn nói rằng chỉ các bậc A-la-hán mới thật sự hiểu được câu nói ấy. Cách nói này có khuôn mẫu song song với đoạn nói về việc lấy phần kem từ sữa bơ trong Trường Bộ Kinh 9 và một số bài khác.]

Khi nghe nói vậy, du sĩ Vekhanasa thưa với Đức Thế Tôn:

"Thật kỳ diệu thay, thưa ngài Gotama, thật hy hữu thay, thưa ngài Gotama!

Lời này của ngài Gotama thật khéo nói:

'Từ dục mà có lạc thú của dục; từ lạc thú của dục mà có lạc thú vượt khỏi dục — chính lạc thú ấy được gọi là tối thượng.'

'Thưa ngài Gotama, từ dục mà có lạc thú của dục; từ lạc thú của dục mà có lạc thú vượt khỏi dục — chính lạc thú ấy được gọi là tối thượng.'"

"Này Kaccāna, điều ấy thật khó hiểu đối với ông, vì ông có kiến giải khác, có niềm tin khác, có sở thích khác, theo một phép tu khác, dưới một vị thầy khác:

dục là gì, lạc thú của dục là gì, lạc thú vượt khỏi dục là gì.

Này Kaccāna, những tỳ-kheo là bậc A-la-hán, đã tận diệt lậu hoặc, đã sống xong đời phạm hạnh, đã làm xong việc cần làm, đã đặt xuống gánh nặng, đã đạt tới mục đích đích thực của mình, đã chấm dứt hoàn toàn những kiết sử trói buộc vào hữu, đã được giải thoát hoàn toàn nhờ chánh trí — chính những vị ấy mới biết được:

dục là gì, lạc thú của dục là gì, lạc thú vượt khỏi dục là gì."

Nghe vậy, du sĩ Vekhanasa nổi giận, không vui, bèn chế nhạo, khinh miệt và nói xấu chính Đức Thế Tôn:

"Sa-môn Gotama sẽ bị lật tẩy!" Ông ta nói với Đức Thế Tôn:

"Cũng vậy, ở đời có một số sa-môn, bà-la-môn không biết đời trước, không thấy đời sau, thế mà

họ vẫn tự nhận rằng: 'Chúng tôi hiểu: sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa.'

Lời nói của họ hóa ra chỉ là trò đùa, chỉ là lời suông, chỉ là chuyện rỗng không, chỉ là chuyện trống rỗng."

"Này Kaccāna, những sa-môn, bà-la-môn nào không biết đời trước, không thấy đời sau,

mà lại tự nhận rằng: 'Chúng tôi hiểu: sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa';

thì sự bác bỏ họ như vậy là hoàn toàn hợp lẽ.

Nhưng này Kaccāna, hãy gác lại chuyện đời trước, hãy gác lại chuyện đời sau.

Hãy để một người có trí đến, không lừa dối, không giả trá, bản tính ngay thẳng. Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng Pháp.

Thực hành đúng theo lời chỉ dạy, không bao lâu người ấy sẽ tự mình biết, tự mình thấy:

'Đúng là như vậy, người ta được giải thoát đúng đắn khỏi sự trói buộc, đó là sự trói buộc của vô minh.'

Ví như, này Kaccāna, một bé trai nhỏ, còn ngây thơ, nằm ngửa, bị trói bằng năm dải vải, dải thứ năm buộc ngang cổ;

khi nó lớn lên và các căn của nó chín muồi, những dải ấy sẽ được cởi ra;

nó sẽ biết: 'Ta đã được cởi ra', và không còn bị trói buộc nữa.

Cũng vậy, này Kaccāna, hãy để một người có trí đến, không lừa dối, không giả trá, bản tính ngay thẳng. Ta sẽ chỉ dạy, Ta sẽ giảng Pháp.

Thực hành đúng theo lời chỉ dạy, không bao lâu người ấy sẽ tự mình biết, tự mình thấy:

'Đúng là như vậy, người ta được giải thoát đúng đắn khỏi sự trói buộc, đó là sự trói buộc của vô minh.'"

Khi nghe nói vậy, du sĩ Vekhanasa thưa với Đức Thế Tôn:

"Thật tuyệt vời, thưa ngài Gotama, thật tuyệt vời! Ví như người ta dựng lại vật đã bị lật úp, mở ra vật đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, đem đèn dầu vào chỗ tối để những người có mắt thấy được các sắc; cũng vậy, ngài Gotama đã làm sáng tỏ Pháp bằng nhiều cách. Con xin quy y ngài Gotama, quy y Pháp và Tăng đoàn tỳ-kheo.

Mong ngài Gotama nhớ đến con như một người cư sĩ đã quy y, từ hôm nay cho đến trọn đời."

Kinh Vekhanasa, bài thứ mười, đã hoàn thành.

[Chú thích của người dịch: Bài thứ mười là vị trí của bài kinh này trong phẩm Paribbājaka, không phải số 80 của Trung Bộ Kinh.]

Phẩm Paribbājaka (Phẩm Du Sĩ), phẩm thứ ba, đã hoàn thành.


18. Kệ tóm tắt phẩm

[Chú thích của người dịch: Đây là bài kệ tóm tắt phẩm Paribbājaka, phẩm thứ ba của Trung Bộ Kinh, gồm mười bài từ bài 71 đến bài 80; mỗi cụm từ là một từ khóa để nhớ tên hoặc chủ đề của một bài. Các từ khóa ấy rất nén và có chỗ đã tối nghĩa trong truyền bản, nên chỗ nào không chắc nghĩa thì bản dịch giữ nguyên dạng Pali.]

Puṇḍarī, Aggisaha, Kathināma,

lại Dīghanakha, người dòng Bhāradvāja;

Sandaka, Udāyī, con trai Muṇḍika,

Maṇika, và Kaccāna — phẩm ưu tú.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →