buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.18

Kinh Ái Thứ Hai

Taṇhāsutta — bài thứ mười tám

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười tám rút gọn bài về ái.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, sắc ái là thường hay vô thường?

Trong phẩm thứ nhất, ái là bài thứ tám và là chỗ mà cả loạt bài đang hướng tới. Trong phẩm thứ hai, nó vẫn ở vị trí thứ bảy của loạt, và vẫn mang cùng trọng lượng.

Sáu từ ghép — sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái — đứng cạnh nhau trong sáu dòng. Đọc nhanh, chúng giống như một danh sách. Đọc chậm, chúng là sáu cách mà một người bám vào thế giới.

Và câu hỏi đặt lên chúng không phải có nên bám không. Câu hỏi là cái đang bám có đứng yên không. Đó là một câu hỏi khác, và nó không đòi người ta phải từ bỏ trước khi trả lời.

Đó là cách tương ưng này làm việc từ đầu đến cuối: nó không ra lệnh. Nó hỏi, và để câu trả lời tự làm phần việc của nó.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Ái Thứ Hai (Taṇhāsutta) — bài thứ mười tám.


"Tại Sāvatthī.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

sắc ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

thanh ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

hương ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

vị ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

xúc ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

pháp ái là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với sắc ái, nhàm chán đối với thanh ái, nhàm chán đối với hương ái, nhàm chán đối với vị ái, nhàm chán đối với xúc ái, nhàm chán đối với pháp ái; do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ mười tám.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →