buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.21

Kinh Ānanda

Ānandasutta — bài thứ mười

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Ānanda (Ānandasutta) khép phẩm Vô Thường bằng một câu hỏi về chữ, và câu trả lời làm rõ một từ mà người đọc kinh hay bỏ qua: nirodha — "sự chấm dứt".

"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'chấm dứt, chấm dứt'. Sự chấm dứt của những pháp nào thì gọi là 'chấm dứt'?"

Đức Thế Tôn trả lời không bằng một định nghĩa trừu tượng, mà bằng từng pháp: sắc là vô thường, hữu vi, do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, tiêu tan, lìa bỏ — sự chấm dứt của nó mới gọi là chấm dứt. Rồi thọ, tưởng, các hành, thức.

Câu ấy khép phẩm rất đúng chỗ. Cả mười bài trước nói "vô thường, khổ, vô ngã" — nghĩa là nói cái gì đang sinh diệt. Bài cuối nói cái gì chấm dứt: không phải một cái gì khác, mà chính năm uẩn ấy, khi không còn duyên để sinh.

Bài kệ tóm tắt phẩm đọc lên nghe như một dòng ghi chú: vô thường, khổ, vô ngã; ba bài "cái gì vô thường" và ba bài do nhân duyên; thêm bài Ānanda là đủ mười.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Đạo (Maggasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Đạo.

Kinh Ānanda (Ānandasutta) — bài thứ mười.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Kỳ Viên.

Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên và thưa:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'chấm dứt, chấm dứt'.

Sự chấm dứt của những pháp nào thì gọi là 'chấm dứt'?"

"Này Ānanda, sắc là vô thường, là hữu vi, là do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, có tính tiêu tan, có tính lìa bỏ, có tính chấm dứt.

Sự chấm dứt của sắc ấy gọi là 'chấm dứt'.

Thọ là vô thường, là hữu vi, là do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, có tính tiêu tan, có tính lìa bỏ, có tính chấm dứt.

Sự chấm dứt của thọ ấy gọi là 'chấm dứt'.

Tưởng là vô thường, là hữu vi, là do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, có tính tiêu tan, có tính lìa bỏ, có tính chấm dứt. Sự chấm dứt của tưởng ấy gọi là 'chấm dứt'.

Các hành là vô thường, là hữu vi, là do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, có tính tiêu tan, có tính lìa bỏ, có tính chấm dứt.

Sự chấm dứt của các hành ấy gọi là 'chấm dứt'.

Thức là vô thường, là hữu vi, là do duyên mà sinh, có tính hoại diệt, có tính tiêu tan, có tính lìa bỏ, có tính chấm dứt.

Sự chấm dứt của thức ấy gọi là 'chấm dứt'.

Này Ānanda, sự chấm dứt của những pháp ấy gọi là 'chấm dứt'."

Kinh Ānanda, bài thứ mười, đến đây là hết.

Phẩm Vô Thường, phẩm thứ hai, đến đây là hết.

Kệ tóm tắt phẩm:

Vô thường, khổ, vô ngã,

rồi ba bài 'cái gì vô thường';

ba bài do nhân duyên,

và bài Ānanda — ấy là đủ mười.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →