buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.88

Kinh Assaji

Assajisutta — bài thứ sáu

6 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Assaji (Assajisutta) là một trong những bài cảm động nhất của Tương Ưng Uẩn.

Tôn giả Assaji — người đã từng nói bài kệ khiến Xá-lợi-phất bỏ đạo khổ hạnh — nay bệnh nặng, nằm trong tu viện. Ông nhắn các vị chăm sóc: "Xin các hiền giả hãy thay tôi đảnh lễ Đức Thế Tôn và thưa rằng: bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Assaji bệnh nặng; xin Ngài thương tưởng mà đến thăm."

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời. Ngài đi rồi, Assaji thấy từ xa liền động đậy trên giường. Ngài nói: "Thôi, Assaji, đừng dậy."

Rồi câu hỏi quen thuộc: "Ông có hối hận gì không? Ông có tự thấy mình có lỗi gì không?" — và câu trả lời rất lạ:

Bạch Thế Tôn, con không hề có chút hối hận nào. Về giới hạnh, con không thấy mình có lỗi nào. Nhưng bạch Thế Tôn, trước khi bệnh, con thiền định với thân hành hoàn toàn lắng xuống. Bây giờ con không vào được định nữa. Vì không được định, con nghĩ: "Mong rằng con đừng thoái giảm!"

Đó là điều Assaji gọi là hối hận: tiếc cái định đã mất. Và Đức Thế Tôn gỡ nó bằng cách chỉ ra rằng có những người tu lấy định làm cốt lõi, nhưng bậc tu đúng thì không cần lo "thoái giảm" — vì người ấy có thể thấy hết thọ, cả ba loại, và không dính vào cái nào.

Bài khép bằng hình ảnh ngọn đèn: đèn dầu cháy nhờ dầu và bấc; dầu bấc cạn thì tắt vì không còn nuôi. Cũng vậy, thọ được hiểu là hết, và tất cả được thấy là không còn dư.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Các Bậc Trưởng Lão (Theravagga) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Assaji (Assajisutta) — bài thứ sáu.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, trong Trúc Lâm, nơi vườn nuôi sóc.

Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú trong một tu viện do ông Kassapa xây, và bệnh nặng, đau đớn, nguy kịch.

Rồi Tôn giả nói với các vị chăm sóc:

"Xin các hiền giả hãy đi đến chỗ Đức Thế Tôn, nhân danh tôi đảnh lễ bằng đầu dưới chân Ngài và thưa rằng:

'Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Assaji bệnh nặng, đau đớn, nguy kịch.

Vị ấy đảnh lễ bằng đầu dưới chân Ngài.'

Rồi hãy nói thêm:

'Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng thương mà đến thăm tỳ-kheo Assaji.'"

"Thưa hiền giả, vâng," các tỳ-kheo ấy đáp. Họ làm đúng như lời Tôn giả dặn.

Rồi các tỳ-kheo ấy đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và thưa:

"Bạch Thế Tôn, tỳ-kheo Assaji bệnh nặng, đau đớn, nguy kịch; vị ấy đảnh lễ bằng đầu dưới chân Ngài và xin Ngài vì lòng thương mà đến thăm."

Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi vào buổi chiều, Đức Thế Tôn ra khỏi thiền định và đi đến chỗ Tôn giả Assaji.

Tôn giả Assaji thấy Đức Thế Tôn từ xa đi đến,

liền động đậy trên giường.

Nhưng Đức Thế Tôn nói với Tôn giả:

"Thôi, Assaji, đừng dậy.

Ở đây có chỗ ngồi đã soạn sẵn, ta sẽ ngồi đó."

Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và nói:

"Ta mong ông vẫn khỏe, này Assaji, mong ông vẫn ổn. Mong rằng các cơn đau đang lắng xuống chứ không tăng lên, đang dịu đi chứ không nặng thêm."

"Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không chịu nổi. Cơn đau của con rất dữ và đang tăng lên, không lắng xuống; dấu hiệu tăng lên của nó rõ rệt, không phải lắng xuống.

"Ta mong ông không có gì hối hận, không có gì ăn năn?"

"Bạch Thế Tôn, con không hề có chút hối hận và ăn năn nào."

"Ta mong ông không có lý do nào để tự trách mình về giới hạnh?"

"Bạch Thế Tôn, con không có lý do nào để tự trách mình về giới hạnh."

"Vậy thì này Assaji, vì sao ông lại có hối hận và ăn năn?"

"Bạch Thế Tôn, trước khi bệnh, con thiền định với thân hành hoàn toàn lắng xuống. Nhưng bây giờ con không thể vào được định ấy nữa.

Vì không vào được định, con nghĩ:

'Mong rằng con đừng thoái giảm!'"

"Này Assaji, có những sa-môn và bà-la-môn lấy định làm cốt lõi, coi định là đời sống phạm hạnh. Họ nghĩ:

'Mong rằng chúng ta đừng thoái giảm!'"

"Này Assaji, ông nghĩ thế nào?

Sắc là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường. Thọ, tưởng, các hành cũng vô thường."

"Thức là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Vậy hết thảy sắc, thọ, tưởng, các hành, thức hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thấy vậy, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'"

"Nếu vị ấy cảm nhận một thọ lạc, vị ấy hiểu rằng nó là vô thường, rằng mình không dính vào nó, rằng mình không thích thú nó.

Nếu vị ấy cảm nhận một thọ khổ, vị ấy hiểu rằng nó là vô thường, rằng mình không dính vào nó, rằng mình không thích thú nó.

Nếu vị ấy cảm nhận một thọ không lạc không khổ, vị ấy hiểu rằng nó là vô thường, rằng mình không dính vào nó, rằng mình không thích thú nó.

Nếu vị ấy cảm nhận một thọ lạc, vị ấy cảm nhận nó với tâm ly khai.

Nếu vị ấy cảm nhận một thọ khổ, vị ấy cảm nhận nó với tâm ly khai.

Nếu vị ấy cảm nhận một thọ không lạc không khổ, vị ấy cảm nhận nó với tâm ly khai.

Khi cảm nhận thân này sắp chấm dứt, vị ấy hiểu rằng: 'Ta đang cảm nhận thân này sắp chấm dứt.' Khi cảm nhận mạng sống sắp chấm dứt, vị ấy hiểu rằng: 'Ta đang cảm nhận mạng sống sắp chấm dứt.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Khi thân này tan rã và mạng sống chấm dứt, mọi thứ được cảm nhận, vì không còn được thích thú nữa, sẽ lắng xuống ngay tại đây.'"

"Ví như một ngọn đèn dầu cháy nhờ dầu và bấc.

Khi dầu và bấc được dùng hết, ngọn đèn tắt vì không còn được nuôi.

Cũng vậy, này Assaji, khi cảm nhận thân này sắp chấm dứt, vị ấy hiểu rằng: 'Ta đang cảm nhận thân này sắp chấm dứt.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Khi thân này tan rã và mạng sống chấm dứt, mọi thứ được cảm nhận, vì không còn được thích thú nữa, sẽ lắng xuống ngay tại đây.'"

Kinh Assaji, bài thứ sáu, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →