buppou

Tương Ưng Bộ · SN 47.89

Kinh Ba Loại Khổ

Dukkhatāsutta — bài thứ tám mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Ba Loại Khổ (Dukkhatāsutta) là một trong những bài phân tích khổ gọn nhất trong kinh tạng.

Ba loại:

cái khổ vốn là khổ (dukkhadukkhatā) — cái đau tự thân: đau răng, đau lòng, buồn, sợ. cái khổ do tạo tác (saṅkhāradukkhatā) — cái khổ nằm trong chính sự vận hành: mọi thứ được làm ra đều phải chống lại sự rã, và sự chống ấy là khổ. cái khổ do biến đổi (vipariṇāmadukkhatā) — cái khổ khi cái đang vui đổi khác: hết một buổi vui, hết một đời người.

Loại thứ nhất ai cũng thấy. Loại thứ hai và thứ ba thì phải nhìn kỹ — và đó chính là việc của bốn chỗ quán niệm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.

Phẩm Các Sự Tìm Cầu (Esanāvagga) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Niệm Xứ, gồm mười bài ngắn, mỗi bài nêu một nhóm pháp.

Kinh Ba Loại Khổ (Dukkhatāsutta) — bài thứ tám mươi chín.


"Này các tỳ-kheo, có ba loại khổ.

Ba ấy là gì?

Cái khổ vốn là khổ, cái khổ do tạo tác, cái khổ do biến đổi —

này các tỳ-kheo, đó là ba loại khổ.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để liễu tri, để làm cho tận cùng, để đoạn tận ba loại khổ ấy, thì phải tu bốn chỗ quán niệm.

Bốn ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;

trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để liễu tri, để làm cho tận cùng, để đoạn tận ba loại khổ ấy, thì phải tu bốn chỗ quán niệm này."

Kinh Ba Loại Khổ, bài thứ tám mươi chín, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →