Tương Ưng Bộ · SN 22.110
Kinh Bậc A-la-hán
Arahantasutta — bài thứ tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Bậc A-la-hán (Arahantasutta) là mốc cuối của dãy bốn bài, và là chỗ định nghĩa một bậc a-la-hán bằng cùng một danh sách.
Vị tỳ-kheo, sau khi hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của năm thủ uẩn, được giải thoát nhờ không chấp thủ. Vị ấy được gọi là bậc a-la-hán, đã tận lậu hoặc, đã sống phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích của mình, đã phá tan kiết sử của sự tái sinh, được giải thoát nhờ chánh trí.
Nhìn lại cả bốn bài (107–110): cùng một phép quán, bốn tên gọi khác nhau — sa-môn đích thực, người đạt mục đích, bậc nhập lưu, bậc a-la-hán. Không có pháp nào riêng cho bậc cao hơn; chỉ có cùng một cái thấy, đi đến cùng.
Đó là điều phẩm này muốn nói: đạo không có nhiều cửa, chỉ có một cửa và nhiều mức đi qua.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Có Đầu Mút (Antavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Bậc A-la-hán (Arahantasutta) — bài thứ tám.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
"Này các tỳ-kheo, có năm thủ uẩn này.
Năm ấy là gì?
Đó là thủ uẩn sắc, thủ uẩn thọ, thủ uẩn tưởng, thủ uẩn các hành, thủ uẩn thức.
Này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo sau khi hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của năm thủ uẩn này, được giải thoát nhờ không chấp thủ.
Vị tỳ-kheo ấy, này các tỳ-kheo, được gọi là bậc a-la-hán, đã tận lậu hoặc, đã sống phạm hạnh, đã làm việc cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt mục đích của mình, đã phá tan kiết sử của sự tái sinh, được giải thoát nhờ chánh trí."
Kinh Bậc A-la-hán, bài thứ tám, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.