Tương Ưng Bộ · SN 47.11
Kinh Bậc Đại Nhân
Mahāpurisasutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Bậc Đại Nhân (Mahāpurisasutta) là một bài rất ngắn nhưng đổi hẳn cách hiểu hai chữ "đại nhân".
Tôn giả Sāriputta hỏi: người ta nói "bậc đại nhân" — vậy thế nào là bậc đại nhân?
Đức Thế Tôn trả lời bằng một tiêu chuẩn không dính gì tới dòng dõi, thân hình, uy quyền hay thần thông: vì tâm đã được giải thoát, Ta gọi là bậc đại nhân; vì tâm chưa được giải thoát, Ta nói không phải bậc đại nhân.
Rồi Ngài nói rõ tâm được giải thoát bằng cách nào: quán thân, thọ, tâm, pháp; và khi quán như vậy thì tâm trở nên nhàm chán, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Cả bài chỉ có một câu trả lời, lặp lại hai lần. Sức nặng nằm ở chỗ ấy: trong kinh này, "lớn" không phải là một tước hiệu — nó là một tình trạng của tâm.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.
Phẩm Nālandā (Nālandavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Niệm Xứ.
Kinh Bậc Đại Nhân (Mahāpurisasutta) — bài thứ mười một.
Tại Sāvatthī.
Rồi Tôn giả Sāriputta đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói "bậc đại nhân, bậc đại nhân".
Bạch Thế Tôn, đến mức nào thì là bậc đại nhân?"
"Này Sāriputta, vì tâm đã được giải thoát, Ta gọi là "bậc đại nhân".
Vì tâm chưa được giải thoát, Ta nói không phải bậc đại nhân.
Và này Sāriputta, thế nào là tâm được giải thoát?
Ở đây, này Sāriputta, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Khi vị ấy trú quán thân nơi thân, tâm trở nên nhàm chán, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Vị ấy trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Vị ấy trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Vị ấy trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Khi vị ấy trú quán pháp nơi các pháp, tâm trở nên nhàm chán, được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
Như vậy, này Sāriputta, là tâm được giải thoát.
Này Sāriputta, vì tâm đã được giải thoát, Ta gọi là "bậc đại nhân".
Vì tâm chưa được giải thoát, Ta nói không phải bậc đại nhân."
Kinh Bậc Đại Nhân, bài thứ mười một, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.