buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.155

Kinh Bậc Thuyết Pháp

Dhammakathikapucchasutta — bài thứ mười

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười là bài cuối phẩm, và nó cũng là bài cuối của năm mươi bài thứ ba.

"Bậc thuyết pháp, bậc thuyết pháp", bạch Thế Tôn, người ta nói như vậy. Đến mức nào thì được gọi là bậc thuyết pháp?

Và câu trả lời có ba mức, và đây là chỗ hay nhất của bài:

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo giảng pháp vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của con mắt, thì đủ để được gọi là bậc thuyết pháp. Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thực hành vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của con mắt, thì đủ để được gọi là bậc thực hành pháp và tùy pháp. Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo do nhàm chán, do ly tham, do chấm dứt con mắt mà được giải thoát không còn chấp thủ, thì đủ để được gọi là bậc đã đạt niết-bàn ngay trong đời này.

Ba mức: nói, làm, thành. Và cả ba đều có cùng một nội dung — nhàm chán, ly tham, chấm dứt, nơi con mắt.

Đó là một định nghĩa rất khiêm. "Bậc thuyết pháp" không phải người nói hay, không phải người biết nhiều. Là người nói về sự chấm dứt của con mắt.

Và điều ấy làm bài này thành một lời tự chỉnh cho cả bộ Tương Ưng: một bộ kinh về sáu cửa, kết thúc bằng câu "người nói đúng về sáu cửa là người thuyết pháp".

Rồi dòng kết:

Phẩm Nghiệp Cũ và Mới, phẩm thứ năm.

Và kệ tóm tắt phẩm, rồi một dòng rất quan trọng:

Năm mươi bài thứ ba trong Tương Ưng Sáu Xứ đến đây là hết.

Rồi kệ tóm tắt các phẩm:

An ổn khỏi ách và thế giới, / Gia Chủ, rồi Devadaha; / với Nghiệp Cũ và Mới là năm mươi bài, / và vì vậy được gọi là nhóm thứ ba.

Đó là mốc 150 bài của Tương Ưng Sáu Xứ — tức là hơn nửa bộ. Và mốc ấy rơi đúng vào một bài nói về người thuyết pháp.

Đọc cả phẩm, có một sợi chỉ rõ: phẩm này nói về cách người ta biết. Nghiệp cũ là cái đã cho; nghiệp mới là cái đang làm; con đường thích hợp là cái đang thấy; và bài cuối là cái đang nói.

Sáu cửa, và quanh chúng là bốn động từ: đã làm, đang làm, đang thấy, đang nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Nghiệp Cũ và Mới (Navapurāṇavagga) — phẩm thứ mười lăm của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Bậc Thuyết Pháp (Dhammakathikapucchasutta) — bài thứ mười.


"Rồi một tỳ-kheo đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, tỳ-kheo ấy nói với Đức Thế Tôn rằng:

'Bậc thuyết pháp, bậc thuyết pháp', bạch Thế Tôn, người ta nói như vậy.

Đến mức nào thì được gọi là bậc thuyết pháp?

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo giảng pháp vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của con mắt, thì đủ để được gọi là bậc thuyết pháp.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thực hành vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của con mắt, thì đủ để được gọi là bậc thực hành pháp và tùy pháp.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo do nhàm chán, do ly tham, do chấm dứt con mắt mà được giải thoát không còn chấp thủ, thì đủ để được gọi là bậc đã đạt niết-bàn ngay trong đời này. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo giảng pháp vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của cái lưỡi, thì đủ để được gọi là bậc thuyết pháp. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo giảng pháp vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của ý, thì đủ để được gọi là bậc thuyết pháp.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo thực hành vì sự nhàm chán, vì sự ly tham, vì sự chấm dứt của ý, thì đủ để được gọi là bậc thực hành pháp và tùy pháp.

Này tỳ-kheo, nếu tỳ-kheo do nhàm chán, do ly tham, do chấm dứt ý mà được giải thoát không còn chấp thủ, thì đủ để được gọi là bậc đã đạt niết-bàn ngay trong đời này."

Bài thứ mười.

Phẩm Nghiệp Cũ và Mới, phẩm thứ năm.

Kệ tóm tắt phẩm:

Nghiệp, bốn bài về thích hợp,

không có đệ tử, vì mục đích gì;

có con đường nào, và phương thức,

cùng với bậc đầy đủ các căn và bậc thuyết pháp.

Năm mươi bài thứ ba trong Tương Ưng Sáu Xứ đến đây là hết.

Kệ tóm tắt các phẩm:

An ổn khỏi ách và thế giới,

Gia Chủ, rồi Devadaha;

với Nghiệp Cũ và Mới là năm mươi bài,

và vì vậy được gọi là nhóm thứ ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →