buppou

Tương Ưng Bộ · SN 36.7

Kinh Bệnh Thứ Nhất

Paṭhamagelaññasutta — bài thứ bảy

9 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bảy mở ra một khung cảnh khác hẳn: không phải một cuộc đối thoại, mà một buổi chiều trong nhà thương.

Một thời, Đức Thế Tôn đang sống ở Vesālī, trong rừng Đại Lâm, tại giảng đường có gác. Rồi Đức Thế Tôn, vào buổi chiều, ra khỏi sự tĩnh cư, đi đến nhà thương; đến rồi, ngồi xuống chỗ đã được sắp sẵn.

Nhà thương — gilānasālā. Đức Thế Tôn đi thăm người bệnh vào buổi chiều, sau khi thiền xong. Đó là một thói quen được ghi lại ở nhiều chỗ.

Và lời dạy Ngài nói ở đó, với những người đang nằm bệnh:

Tỳ-kheo hãy đi tới thời điểm của mình với chánh niệm, với tỉnh giác. Đấy là lời dạy của Ta cho các vị.

Chữ kālaṁ āgameyya — hãy đi tới thời điểm — là một cách nói rất nhẹ về cái chết. Không phải "hãy chết", không phải "hãy sẵn sàng chết". Mà "hãy đi tới thời điểm của mình" — như đi tới một cuộc hẹn.

Rồi bài định nghĩa chánh niệm và tỉnh giác — và đây là một trong những định nghĩa gọn nhất trong kinh điển:

Chánh niệm = bốn niệm xứ (thân, thọ, tâm, pháp). Tỉnh giác = biết mình đang làm gì trong mọi oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói, im.

Đó là toàn bộ nội dung. Không có gì thêm.

Rồi phần quan trọng nhất, và nó khác bài 8 ở một chữ:

Khi tỳ-kheo ấy sống như vậy mà thọ lạc khởi lên, vị ấy biết: "Thọ lạc này đã khởi lên nơi ta. Và nó khởi lên do duyên, không phải không do duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này."

Do duyên chính thân này — imameva kāyaṁ paṭicca. Bài 8 sẽ nói do duyên chính xúc này.

Đó là toàn bộ sự khác biệt giữa hai bài: một bài nhìn từ thân, một bài nhìn từ xúc. Và cả hai đều dẫn tới cùng một kết luận: cái gì do duyên mà sinh thì không thể thường còn.

Rồi kết thúc bằng ngọn đèn dầu:

Một ngọn đèn dầu cháy nhờ dầu và nhờ bấc. Khi dầu và bấc ấy đã hết, thì không còn nhiên liệu, ngọn đèn tắt.

Và câu cuối:

Sau khi thân tan rã, sau khi mạng sống chấm dứt, vị ấy biết: ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, không được hoan hỷ, sẽ trở nên mát lạnh.

Sītībhavissanti — sẽ trở nên mát lạnh. Không phải sẽ tắt, không phải sẽ biến mất. Mà sẽ nguội đi.

Đó là một trong những hình ảnh dịu nhất trong toàn bộ kinh điển về cái chết.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thọ (Vedanāsaṃyutta), tương ưng thứ 36.

Phẩm Có Kệ (Sagāthāvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thọ.

Kinh Bệnh Thứ Nhất (Paṭhamagelaññasutta) — bài thứ bảy.


"Một thời, Đức Thế Tôn đang sống ở Vesālī, trong rừng Đại Lâm, tại giảng đường có gác.

Rồi Đức Thế Tôn, vào buổi chiều, ra khỏi sự tĩnh cư, đi đến nhà thương; đến rồi, ngồi xuống chỗ đã được sắp sẵn.

Ngồi xuống rồi, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo lại:

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy đi tới thời điểm của mình với chánh niệm, với tỉnh giác.

Đấy là lời dạy của Ta cho các vị.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo có chánh niệm?

Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo sống quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham và ưu ở đời;

sống quán thọ trên các thọ — cũng vậy.

sống quán tâm trên tâm — cũng vậy.

sống quán pháp trên các pháp, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham và ưu ở đời.

Này các tỳ-kheo, như vậy là tỳ-kheo có chánh niệm.

Và này các tỳ-kheo, thế nào là tỳ-kheo có tỉnh giác?

Ở đây, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo khi đi tới đi lui thì làm với tỉnh giác; khi nhìn tới nhìn lui thì làm với tỉnh giác; khi co tay duỗi tay thì làm với tỉnh giác; khi mang y tăng-già-lê, bát và y thì làm với tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm thì làm với tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện thì làm với tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói, im lặng thì làm với tỉnh giác.

Này các tỳ-kheo, như vậy là tỳ-kheo làm với tỉnh giác.

Này các tỳ-kheo, tỳ-kheo hãy đi tới thời điểm của mình với chánh niệm, với tỉnh giác.

Đấy là lời dạy của Ta cho các vị.

Này các tỳ-kheo, khi tỳ-kheo ấy sống như vậy — có chánh niệm, có tỉnh giác, không phóng dật, tinh cần, đã dốc lòng — mà thọ lạc khởi lên, thì vị ấy biết như sau:

Vị ấy biết như sau:

Thọ lạc này đã khởi lên nơi ta.

Và nó khởi lên do duyên, không phải không do duyên.

Do duyên gì?

Do duyên chính thân này.

Mà thân này là vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh.

Vậy thọ lạc khởi lên do duyên một thân vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh — làm sao nó có thể thường còn được?

Vị ấy sống quán vô thường nơi thân và nơi thọ lạc, sống quán sự hoại diệt, sống quán sự ly tham, sống quán sự chấm dứt, sống quán sự từ bỏ; khi sống như vậy, tùy miên tham nơi thân và nơi thọ lạc được đoạn trừ.

Này các tỳ-kheo, khi tỳ-kheo ấy sống như vậy — có chánh niệm, có tỉnh giác, không phóng dật, tinh cần, đã dốc lòng — mà thọ khổ khởi lên, thì vị ấy biết như sau:

Vị ấy biết như sau:

Thọ khổ này đã khởi lên nơi ta.

Và nó khởi lên do duyên, không phải không do duyên.

Do duyên gì?

Do duyên chính thân này.

Mà thân này là vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh.

Vậy thọ khổ khởi lên do duyên một thân vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh — làm sao nó có thể thường còn được?

Vị ấy sống quán vô thường nơi thân và nơi thọ khổ, sống quán sự hoại diệt, sống quán sự ly tham, sống quán sự chấm dứt, sống quán sự từ bỏ.

Khi vị ấy sống quán vô thường nơi thân và nơi thọ khổ, quán sự hoại diệt, quán sự ly tham, quán sự chấm dứt, quán sự từ bỏ, thì tùy miên sân nơi thân và nơi thọ khổ được đoạn trừ.

Này các tỳ-kheo, khi tỳ-kheo ấy sống như vậy — có chánh niệm, có tỉnh giác, không phóng dật, tinh cần, đã dốc lòng — mà thọ không khổ không lạc khởi lên, thì vị ấy biết như sau:

Thọ không khổ không lạc này đã khởi lên nơi ta.

Và nó khởi lên do duyên, không phải không do duyên.

Do duyên gì?

Do duyên chính thân này.

Mà thân này là vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh.

Vậy thọ không khổ không lạc khởi lên do duyên một thân vô thường, do tạo tác, do duyên mà sinh — làm sao nó có thể thường còn được?

Vị ấy sống quán vô thường nơi thân và nơi thọ không khổ không lạc, sống quán sự hoại diệt, sống quán sự ly tham, sống quán sự chấm dứt, sống quán sự từ bỏ.

Khi vị ấy sống quán vô thường nơi thân và nơi thọ không khổ không lạc, quán sự hoại diệt, quán sự ly tham, quán sự chấm dứt, quán sự từ bỏ, thì tùy miên vô minh nơi thân và nơi thọ không khổ không lạc được đoạn trừ.

Nếu vị ấy cảm thọ thọ lạc, vị ấy biết nó là vô thường, biết nó không được bám víu, biết nó không được hoan hỷ;

nếu vị ấy cảm thọ thọ khổ — cũng vậy.

nếu vị ấy cảm thọ thọ không khổ không lạc, vị ấy biết nó là vô thường, biết nó không được bám víu, biết nó không được hoan hỷ.

Nếu vị ấy cảm thọ thọ lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc;

nếu vị ấy cảm thọ thọ khổ, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc;

nếu vị ấy cảm thọ thọ không khổ không lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc.

Khi cảm thọ một thọ chấm dứt với thân, vị ấy biết: ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với thân; khi cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống, vị ấy biết: ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống.

Sau khi thân tan rã, sau khi mạng sống chấm dứt, vị ấy biết: ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, không được hoan hỷ, sẽ trở nên mát lạnh.

Ví như, này các tỳ-kheo, một ngọn đèn dầu cháy nhờ dầu và nhờ bấc.

Khi dầu và bấc ấy đã hết, thì không còn nhiên liệu, ngọn đèn tắt.

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, tỳ-kheo khi cảm thọ một thọ chấm dứt với thân thì biết: ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với thân; khi cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống thì biết: ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống.

Sau khi thân tan rã, sau khi mạng sống chấm dứt, vị ấy biết: ngay tại đây, tất cả những gì được cảm thọ, không được hoan hỷ, sẽ trở nên mát lạnh."

Bài thứ bảy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →