Tương Ưng Bộ · SN 36.6
Kinh Mũi Tên
Sallasutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ sáu là bài dài nhất của phẩm đầu, và nó là trung tâm của toàn bộ tương ưng — vì nó trả lời đúng câu hỏi mà mọi bài sau sẽ nhắc lại: vậy khác nhau ở đâu?
Kẻ phàm phu không nghe nhiều cảm thọ thọ lạc, cảm thọ thọ khổ, cảm thọ thọ không khổ không lạc. Vị thánh đệ tử đã nghe nhiều cũng vậy. Đâu là sự khác biệt?
Cả hai đều cảm thọ. Không ai được miễn. Và câu trả lời là hai mũi tên.
Kẻ phàm phu bị thọ khổ chạm vào thì sầu, mệt, khóc, đập ngực, rơi vào mê loạn. Vị ấy cảm thọ hai thọ — thọ thuộc thân và thọ thuộc tâm.
Hình ảnh:
Người ta bắn một người bằng một mũi tên. Rồi bắn thêm một mũi tên nữa, bắn xuyên qua. Người ấy cảm thọ bằng hai mũi tên.
Đó là toàn bộ giáo lý của bài này, và nó chính xác đến mức tàn nhẫn: mũi tên thứ hai là mũi tên mình tự bắn.
Rồi bài giải thích cơ chế của mũi tên thứ hai, và phần này rất đáng đọc kỹ:
Do bực bội với thọ khổ, tùy miên sân nơi thọ khổ ngủ ngầm. Khi bị thọ khổ chạm vào, vị ấy hoan hỷ với lạc của dục. Vì sao vậy? Vì không biết sự xuất ly khỏi thọ khổ ngoài lạc của dục. Do hoan hỷ với lạc của dục, tùy miên tham nơi thọ lạc ngủ ngầm.
Đây là một chuỗi nhân quả rất kín: đau → sân → tìm lạc dục → tham → vô minh (vì không biết sự xuất ly khỏi đau nào khác ngoài lạc dục).
Nghĩa là: người không biết cách nào khác để hết đau thì buộc phải đi tìm lạc dục. Và chính vì thế mà tham sinh.
Còn vị thánh đệ tử:
Vị ấy cảm thọ một thọ — thọ thuộc thân, không phải thọ thuộc tâm.
Một mũi tên. Cơn đau vẫn ở đó. Nhưng không có mũi thứ hai.
Và bài kết:
Bậc có tuệ không cảm thọ các thọ, / dù là lạc hay khổ, bậc đã nghe nhiều.
Chữ na vedanaṁ vedayati nghe như nghịch lý — không cảm thọ các thọ — nhưng nó là cách nói của một người đã thoát: không còn cảm thọ như một kẻ bị cảm thọ.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thọ (Vedanāsaṃyutta), tương ưng thứ 36.
Phẩm Có Kệ (Sagāthāvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thọ.
Kinh Mũi Tên (Sallasutta) — bài thứ sáu.
"Này các tỳ-kheo, kẻ phàm phu không nghe nhiều cảm thọ thọ lạc, cảm thọ thọ khổ, cảm thọ thọ không khổ không lạc.
Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều cũng cảm thọ thọ lạc, cảm thọ thọ khổ, cảm thọ thọ không khổ không lạc.
Ở đây, này các tỳ-kheo, đâu là sự khác biệt, đâu là sự đặc biệt, đâu là chỗ phân biệt giữa vị thánh đệ tử đã nghe nhiều và kẻ phàm phu không nghe nhiều?
Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Đức Thế Tôn làm gốc rễ, lấy Đức Thế Tôn làm người dẫn đường, lấy Đức Thế Tôn làm chỗ nương tựa.
Này các tỳ-kheo, kẻ phàm phu không nghe nhiều, khi bị thọ khổ chạm vào, thì sầu, mệt, khóc, đập ngực, rơi vào mê loạn.
Vị ấy cảm thọ hai thọ —
thọ thuộc thân và thọ thuộc tâm.
Ví như, này các tỳ-kheo, người ta bắn một người bằng một mũi tên.
Rồi người ta bắn người ấy thêm một mũi tên nữa, bắn xuyên qua.
Như vậy, này các tỳ-kheo, người ấy cảm thọ bằng hai mũi tên.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, kẻ phàm phu không nghe nhiều, khi bị thọ khổ chạm vào, thì sầu, mệt, khóc, đập ngực, rơi vào mê loạn.
Vị ấy cảm thọ hai thọ —
thọ thuộc thân và thọ thuộc tâm.
Khi bị chính thọ khổ ấy chạm vào, vị ấy trở nên bực bội.
Do bực bội với thọ khổ, tùy miên sân nơi thọ khổ ngủ ngầm nơi vị ấy.
Khi bị thọ khổ chạm vào, vị ấy hoan hỷ với lạc của dục.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì kẻ phàm phu không nghe nhiều ấy không biết sự xuất ly khỏi thọ khổ ngoài lạc của dục.
Do vị ấy hoan hỷ với lạc của dục, tùy miên tham nơi thọ lạc ngủ ngầm nơi vị ấy.
Vị ấy không biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ ấy.
Do vị ấy không biết sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ ấy, tùy miên vô minh nơi thọ không khổ không lạc ngủ ngầm nơi vị ấy.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ khổ, vị ấy cảm thọ nó trong sự trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ không khổ không lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự trói buộc.
Này các tỳ-kheo, ấy được gọi là kẻ phàm phu không nghe nhiều bị trói bởi sinh, già, chết, sầu, than, khổ, buồn, não; bị trói bởi khổ — Ta nói như vậy.
Này các tỳ-kheo, còn vị thánh đệ tử đã nghe nhiều, khi bị thọ khổ chạm vào, thì không sầu, không mệt, không khóc, không đập ngực, không rơi vào mê loạn.
Vị ấy cảm thọ một thọ —
thọ thuộc thân, không phải thọ thuộc tâm.
Ví như, này các tỳ-kheo, người ta bắn một người bằng một mũi tên.
Rồi người ta không bắn người ấy thêm một mũi tên nữa, bắn xuyên qua.
Như vậy, này các tỳ-kheo, người ấy cảm thọ bằng một mũi tên.
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều, khi bị thọ khổ chạm vào, thì không sầu, không mệt, không khóc, không đập ngực, không rơi vào mê loạn.
Vị ấy cảm thọ một thọ —
thọ thuộc thân, không phải thọ thuộc tâm.
Khi bị chính thọ khổ ấy chạm vào, vị ấy không trở nên bực bội.
Do không bực bội với thọ khổ, tùy miên sân nơi thọ khổ không ngủ ngầm nơi vị ấy.
Khi bị thọ khổ chạm vào, vị ấy không hoan hỷ với lạc của dục.
Vì sao vậy?
Này các tỳ-kheo, vì vị thánh đệ tử đã nghe nhiều ấy biết sự xuất ly khỏi thọ khổ ngoài lạc của dục.
Do vị ấy không hoan hỷ với lạc của dục, tùy miên tham nơi thọ lạc không ngủ ngầm nơi vị ấy.
Vị ấy biết đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ ấy.
Do vị ấy biết sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ ấy, tùy miên vô minh nơi thọ không khổ không lạc không ngủ ngầm nơi vị ấy.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ khổ, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc.
Nếu vị ấy cảm thọ thọ không khổ không lạc, vị ấy cảm thọ nó trong sự không trói buộc.
Này các tỳ-kheo, ấy được gọi là vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không bị trói bởi sinh, già, chết, sầu, than, khổ, buồn, não; không bị trói bởi khổ — Ta nói như vậy.
Này các tỳ-kheo, đây là sự khác biệt, đây là sự đặc biệt, đây là chỗ phân biệt giữa vị thánh đệ tử đã nghe nhiều và kẻ phàm phu không nghe nhiều.
Bậc có tuệ không cảm thọ các thọ,
dù là lạc hay khổ, bậc đã nghe nhiều;
đây là sự khác biệt lớn,
giữa bậc trí và kẻ phàm phu.
Bậc đã liễu tri pháp, bậc đã nghe nhiều,
quán thế giới này và thế giới khác;
các pháp đáng yêu không khuấy động tâm vị ấy,
và với cái không đáng yêu, vị ấy không đi tới sân.
Những gì là tham đắm hay chống đối
nơi vị ấy đã được dập tắt, đã đi tới chỗ chấm dứt, không còn;
sau khi biết con đường không bụi, không sầu,
vị ấy hiểu một cách đúng đắn, bậc đã tới bờ bên kia của hữu."
Bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.