Tương Ưng Bộ · SN 47.9
Kinh Bệnh
Gilānasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Bệnh (Gilānasutta) là bài quan trọng nhất của Tương Ưng Niệm Xứ, và là một trong những bài được trích nhiều nhất trong toàn bộ Kinh tạng Pali.
Ba chuyện nằm trong một bài:
Một là bệnh của Đức Thế Tôn. Vào mùa an cư cuối đời, Ngài lâm bệnh nặng, "những cảm thọ dữ dội, như muốn chết". Ngài không gọi ai, không trấn an ai — Ngài chịu đựng, chánh niệm, tỉnh giác. Rồi Ngài nghĩ: chưa nên diệt độ mà không báo cho hội chúng; hãy lấy tinh tấn đẩy lùi bệnh, giữ lại phần đời còn lại.
Hai là câu trả lời cho Ānanda. Ānanda nói: thân tôi như mềm nhũn, phương hướng tôi không rõ. Rồi Đức Thế Tôn trả lời bằng một loạt câu mà người đọc kinh hay nhớ: Pháp đã dạy đủ, không có gì giấu trong lòng bàn tay; Như Lai không giữ chức lãnh đạo hội chúng; Như Lai đã già, tám mươi; thân Như Lai chạy như chiếc xe cũ chạy nhờ đòn tre.
Ba là lời dặn cuối. "Hãy sống tự mình là hòn đảo của mình, tự mình là chỗ nương của mình, không nương vào ai khác; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương."
Chữ dīpa trong câu ấy vừa có nghĩa hòn đảo vừa có nghĩa ngọn đèn. Cả hai cách đọc đều đúng và đều được dùng: một hòn đảo để khỏi bị nước cuốn, một ngọn đèn để khỏi đi trong tối. Rồi Ngài nói rõ "hòn đảo" ấy là gì — chính là bốn chỗ quán niệm.
Và câu cuối cùng của bài là câu chuẩn để đo: ai sống như vậy, ngay bây giờ hay sau khi Ngài mất, thì người ấy là người cao nhất trong những người còn muốn học.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Xứ (Satipaṭṭhānasaṃyutta), tương ưng thứ 47.
Phẩm Ambapālī (Ambapālivagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Niệm Xứ.
Kinh Bệnh (Gilānasutta) — bài thứ chín.
Tôi nghe như vầy —
một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú ở Vesālī, tại làng Veḷuvagāmaka.
Ở đó, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:
"Này các tỳ-kheo, các ông hãy đi quanh Vesālī, tùy theo bạn bè, người quen, người thân mà an cư.
Còn Ta, Ta sẽ an cư ngay tại làng Veḷuvagāmaka này."
"Thưa vâng, bạch Thế Tôn" — các tỳ-kheo ấy vâng lời Đức Thế Tôn, rồi đi quanh Vesālī, tùy theo bạn bè, người quen, người thân mà an cư.
Còn Đức Thế Tôn thì an cư ngay tại làng Veḷuvagāmaka ấy.
Rồi khi Đức Thế Tôn đã an cư, một cơn bệnh nặng phát sinh; những cảm thọ dữ dội xuất hiện, như muốn giết chết.
Đức Thế Tôn chịu đựng những cảm thọ ấy, chánh niệm, tỉnh giác, không bị khổ não.
Rồi Đức Thế Tôn nghĩ như vầy:
"Thật không thích hợp cho Ta nếu Ta diệt độ mà không nói với những người hầu hạ, không báo cho hội chúng tỳ-kheo.
Vậy Ta hãy lấy tinh tấn đẩy lùi cơn bệnh này, giữ lại phần đời còn lại mà sống."
Rồi Đức Thế Tôn lấy tinh tấn đẩy lùi cơn bệnh ấy, giữ lại phần đời còn lại mà sống.
Rồi cơn bệnh ấy của Đức Thế Tôn lắng xuống.
Rồi Đức Thế Tôn, vừa khỏi bệnh, chưa bao lâu sau khi ra khỏi cơn bệnh, đã bước ra khỏi chỗ ở và ngồi xuống chỗ ngồi đã soạn sẵn trong bóng mát của chỗ ở ấy.
Rồi Tôn giả Ānanda đến chỗ Đức Thế Tôn; đến rồi, đảnh lễ Đức Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda nói với Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, con thấy Đức Thế Tôn đã được an ổn;
bạch Thế Tôn, con thấy Đức Thế Tôn đã chịu đựng được;
bạch Thế Tôn, con thấy Đức Thế Tôn đã sống qua được.
Nhưng bạch Thế Tôn, thân con như mềm nhũn ra, phương hướng con không còn rõ, các pháp không hiện ra trước con — vì bệnh của Đức Thế Tôn.
Nhưng bạch Thế Tôn, con có một chút an ủi:
"Đức Thế Tôn sẽ chưa diệt độ khi chưa nói điều gì đó về hội chúng tỳ-kheo."
"Nhưng này Ānanda, hội chúng tỳ-kheo còn chờ gì ở Ta nữa?
Này Ānanda, Pháp đã được Ta dạy, không có gì để lại phía sau, không có gì giấu trong lòng bàn tay.
Này Ānanda, nơi các pháp, Như Lai không có "nắm tay của người thầy".
Này Ānanda, nếu ai nghĩ như vầy:
"Ta sẽ lãnh đạo hội chúng tỳ-kheo" hay "hội chúng tỳ-kheo là của Ta" — thì này Ānanda, người ấy mới cần nói điều gì đó về hội chúng tỳ-kheo.
Này Ānanda, Như Lai thì không nghĩ như vầy:
"Ta sẽ lãnh đạo hội chúng tỳ-kheo" hay "hội chúng tỳ-kheo là của Ta".
Vậy này Ānanda, Như Lai có gì để nói về hội chúng tỳ-kheo?
Này Ānanda, nay Ta đã già, đã lớn tuổi, đã về cuối đường, đã tới tuổi.
Ta đã tám mươi tuổi.
Này Ānanda, ví như một chiếc xe cũ phải chạy nhờ đòn tre chằng lại;
cũng vậy, này Ānanda, thân của Như Lai, Ta nghĩ, cũng phải chạy nhờ đòn tre chằng lại.
Này Ānanda, khi nào Như Lai không tác ý đến mọi dấu hiệu, đạt đến định tâm không dấu hiệu nhờ diệt một số cảm thọ, thì này Ānanda, lúc ấy thân của Như Lai mới dễ chịu hơn.
Vậy nên, này Ānanda, hãy sống tự mình là hòn đảo của mình, tự mình là chỗ nương của mình, không lấy ai khác làm chỗ nương; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương, không lấy ai khác làm chỗ nương.
Và này Ānanda, thế nào là vị tỳ-kheo sống tự mình là hòn đảo của mình, tự mình là chỗ nương của mình, không lấy ai khác làm chỗ nương; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương, không lấy ai khác làm chỗ nương?
Ở đây, này Ānanda, vị tỳ-kheo trú quán thân nơi thân — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán thọ nơi các thọ — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán tâm nơi tâm — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời;
trú quán pháp nơi các pháp — nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã từ bỏ tham lam và ưu não ở đời.
Như vậy, này Ānanda, là vị tỳ-kheo sống tự mình là hòn đảo của mình, tự mình là chỗ nương của mình, không lấy ai khác làm chỗ nương; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương, không lấy ai khác làm chỗ nương.
Này Ānanda, những ai bây giờ hay sau khi Ta mất, sẽ sống tự mình là hòn đảo của mình, tự mình là chỗ nương của mình, không lấy ai khác làm chỗ nương; lấy Pháp làm hòn đảo, lấy Pháp làm chỗ nương, không lấy ai khác làm chỗ nương — này Ānanda, những tỳ-kheo ấy sẽ là những người cao nhất, miễn là họ còn thiết tha với việc học."
Kinh Bệnh, bài thứ chín, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.