buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.79

Kinh Bị Gặm Nhấm

Khajjanīyasutta — bài thứ bảy

13 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Bị Gặm Nhấm (Khajjanīyasutta) là bài dài nhất và nổi tiếng nhất của phẩm, và nó mở bằng một câu lạ:

Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, tất cả đều nhớ lại trong năm thủ uẩn này.

Rồi Đức Thế Tôn chơi chữ với tên của từng uẩn — một lối giảng rất cổ, dựa vào nghĩa gốc của từ:

  • sắc (rūpa) từ rūppati, "bị bào mòn": bị lạnh, nóng, đói, khát, ruồi muỗi, gió, nắng, bò sát bào mòn;
  • thọ (vedanā) từ vedayati, "cảm nhận": cảm nhận lạc, khổ, không lạc không khổ;
  • tưởng (saññā) từ sañjānāti, "nhận biết": nhận biết xanh, vàng, đỏ, trắng;
  • hành (saṅkhārā) từ saṅkharoti, "tạo tác": chúng tạo tác cái hữu vi;
  • thức (viññāṇa) từ vijānāti, "nhận thức": nhận thức chua, đắng, cay, ngọt, nóng, dịu, mặn, nhạt.

Đoạn giữa là một hình ảnh rất mạnh, và là chỗ bài này được đặt tên: "hiện tại ta đang bị sắc gặm nhấm". Quá khứ cũng vậy, vị lai cũng vậy. Ai thấy được điều ấy thì không còn màng đến sắc quá khứ, không mong sắc vị lai, và thực hành để nhàm chán sắc hiện tại.

Phần cuối là một trong những đoạn tinh tế nhất của Tương Ưng Uẩn: vị thánh đệ tử từ bỏ mà không tích lũy, buông mà không nắm, gỡ lưới mà không mắc lưới, làm tan mà không bị che mờ — và rồi một bậc a-la-hán thì "không từ bỏ cũng không tích lũy, an trú sau khi đã từ bỏ hết".

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Bị Gặm Nhấm (Khajjanīyavagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Bị Gặm Nhấm (Khajjanīyasutta) — bài thứ bảy.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.

"Này các tỳ-kheo, những sa-môn hay bà-la-môn nào nhớ lại nhiều đời sống quá khứ, tất cả đều nhớ lại trong năm thủ uẩn này.

Năm ấy là gì?

'Ta đã có sắc như vậy trong quá khứ.'

Nhớ lại như vậy, họ chỉ nhớ lại sắc.

'Ta đã có thọ như vậy trong quá khứ.'

'Ta đã có tưởng như vậy trong quá khứ.'

'Ta đã có các hành như vậy trong quá khứ.'

'Ta đã có thức như vậy trong quá khứ.'

Nhớ lại như vậy, họ chỉ nhớ lại thức.

Tất cả những gì được nhớ lại đều nằm trong năm thủ uẩn này — không có gì khác."

"Và này các tỳ-kheo, vì sao gọi là sắc?

Vì nó bị bào mòn, nên gọi là sắc.

Bị bào mòn bởi cái gì?

Bị bào mòn bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, bởi khát; bị bào mòn bởi ruồi, muỗi, gió, nắng và các loài bò sát.

Vì nó bị bào mòn, nên gọi là sắc.

Và này các tỳ-kheo, vì sao gọi là thọ?

Vì nó cảm nhận, nên gọi là thọ.

Nó cảm nhận cái gì?

Nó cảm nhận lạc, cảm nhận khổ, cảm nhận không lạc không khổ.

Vì nó cảm nhận, nên gọi là thọ.

Và này các tỳ-kheo, vì sao gọi là tưởng?

Vì nó nhận biết, nên gọi là tưởng.

Nó nhận biết cái gì?

Nó nhận biết xanh, nhận biết vàng, nhận biết đỏ, nhận biết trắng.

Vì nó nhận biết, nên gọi là tưởng.

Và này các tỳ-kheo, vì sao gọi là các hành?

Vì chúng tạo tác cái hữu vi, nên gọi là các hành.

Chúng tạo tác những cái hữu vi nào?

Sắc là hữu vi, và các hành là cái làm nên sắc. Thọ là hữu vi, và các hành là cái làm nên thọ. Tưởng là hữu vi, và các hành là cái làm nên tưởng. Các hành là hữu vi, và các hành là cái làm nên các hành. Thức là hữu vi, và các hành là cái làm nên thức.

Vì chúng tạo tác cái hữu vi, nên gọi là các hành.

Và này các tỳ-kheo, vì sao gọi là thức?

Vì nó nhận thức, nên gọi là thức.

Nó nhận thức cái gì?

Nó nhận thức chua, nhận thức đắng, nhận thức cay, nhận thức ngọt, nhận thức nóng, nhận thức dịu, nhận thức mặn, nhận thức nhạt.

Vì nó nhận thức, nên gọi là thức.

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học suy xét như vầy:

'Hiện tại ta đang bị sắc gặm nhấm.

Trong quá khứ ta cũng đã bị sắc gặm nhấm, y như bây giờ.

Nếu ta mong được hưởng sắc trong vị lai, thì trong vị lai ta cũng sẽ bị sắc gặm nhấm, y như hôm nay.'

Suy xét như vậy, vị ấy không bận tâm đến sắc quá khứ,

không mong được hưởng sắc vị lai,

và thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt sắc hiện tại.

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học suy xét như vầy:

'Hiện tại ta đang bị thọ gặm nhấm.

Trong quá khứ ta cũng đã bị thọ gặm nhấm, y như bây giờ.

Nếu ta mong được hưởng thọ trong vị lai, thì trong vị lai ta cũng sẽ bị thọ gặm nhấm, y như hôm nay.'

Suy xét như vậy, vị ấy không bận tâm đến thọ quá khứ,

không mong được hưởng thọ vị lai,

và thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt thọ hiện tại.

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học suy xét như vầy:

'Hiện tại ta đang bị tưởng gặm nhấm.

Trong quá khứ ta cũng đã bị tưởng gặm nhấm, y như bây giờ.

Nếu ta mong được hưởng tưởng trong vị lai, thì trong vị lai ta cũng sẽ bị tưởng gặm nhấm, y như hôm nay.'

Suy xét như vậy, vị ấy không bận tâm đến tưởng quá khứ,

không mong được hưởng tưởng vị lai,

và thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt tưởng hiện tại.

Và với các hành, cũng cùng một cách suy xét như vậy.

Này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học suy xét như vầy:

'Hiện tại ta đang bị thức gặm nhấm.

Trong quá khứ ta cũng đã bị thức gặm nhấm, y như bây giờ.

Nếu ta mong được hưởng thức trong vị lai, thì trong vị lai ta cũng sẽ bị thức gặm nhấm, y như hôm nay.'

Suy xét như vậy, vị ấy không bận tâm đến thức quá khứ,

không mong được hưởng thức vị lai,

và thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt thức hiện tại.

"Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào?

Sắc là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Nhưng cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Nhưng cái gì vô thường, khổ, hay hư hoại thì có hợp để xem như vầy không:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Thọ là thường hay vô thường?" "Bạch Thế Tôn, là vô thường." "Cái gì vô thường, khổ, hay hư hoại thì có hợp để xem là 'của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi' không?" "Bạch Thế Tôn, không."

"Tưởng là thường hay vô thường?" "Bạch Thế Tôn, là vô thường." "Cái gì vô thường, khổ, hay hư hoại thì có hợp để xem là 'của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi' không?" "Bạch Thế Tôn, không."

"Các hành là thường hay vô thường?" "Bạch Thế Tôn, là vô thường." "Cái gì vô thường, khổ, hay hư hoại thì có hợp để xem là 'của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi' không?" "Bạch Thế Tôn, không."

"Thức là thường hay vô thường?"

"Bạch Thế Tôn, là vô thường."

"Nhưng cái gì vô thường thì là khổ hay là lạc?"

"Bạch Thế Tôn, là khổ."

"Nhưng cái gì vô thường, khổ, hay hư hoại thì có hợp để xem như vầy không:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?"

"Bạch Thế Tôn, không."

"Vậy này các tỳ-kheo, sắc gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy sắc ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thọ gì cũng vậy — hết thảy thọ ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Tưởng gì cũng vậy — hết thảy tưởng ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Các hành gì cũng vậy — hết thảy các hành ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'

Thức gì cũng vậy — quá khứ, vị lai hay hiện tại; trong hay ngoài; thô hay tế; thấp hay cao; xa hay gần — hết thảy thức ấy hãy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'"

Này các tỳ-kheo, vị này được gọi là thánh đệ tử từ bỏ mà không tích lũy,

buông mà không nắm,

gỡ lưới mà không mắc lưới,

làm tan mà không bị che mờ.

Và vị ấy từ bỏ những gì mà không tích lũy?

Vị ấy từ bỏ sắc mà không tích lũy sắc.

Vị ấy từ bỏ thọ mà không tích lũy thọ.

Vị ấy từ bỏ tưởng mà không tích lũy tưởng.

Vị ấy từ bỏ các hành mà không tích lũy các hành.

Vị ấy từ bỏ thức mà không tích lũy thức.

Và vị ấy buông những gì mà không nắm?

Vị ấy buông sắc mà không nắm sắc.

Vị ấy buông thọ mà không nắm thọ.

Vị ấy buông tưởng mà không nắm tưởng.

Vị ấy buông các hành mà không nắm các hành.

Vị ấy buông thức mà không nắm thức.

Và vị ấy gỡ lưới những gì mà không mắc lưới?

Vị ấy gỡ lưới nơi sắc mà không mắc lưới nơi sắc.

Vị ấy gỡ lưới nơi thọ mà không mắc lưới nơi thọ.

Vị ấy gỡ lưới nơi tưởng mà không mắc lưới nơi tưởng.

Vị ấy gỡ lưới nơi các hành mà không mắc lưới nơi các hành.

Vị ấy gỡ lưới nơi thức mà không mắc lưới nơi thức.

Và vị ấy làm tan những gì mà không bị che mờ?

Vị ấy làm tan sắc mà không bị sắc che mờ.

Vị ấy làm tan thọ mà không bị thọ che mờ.

Vị ấy làm tan tưởng mà không bị tưởng che mờ.

Vị ấy làm tan các hành mà không bị các hành che mờ.

Vị ấy làm tan thức mà không bị thức che mờ.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã học nhàm chán đối với sắc, thọ, tưởng, các hành và thức.

Nhàm chán nên ly tham. Ly tham nên được giải thoát. Được giải thoát nên biết rằng: 'Ta đã được giải thoát.'

Vị ấy hiểu rằng: 'Sinh đã tận, phạm hạnh đã sống, việc cần làm đã làm, không còn gì nữa cho đời này.'

Này các tỳ-kheo, vị này được gọi là tỳ-kheo đã từ bỏ hết nên không còn gì để từ bỏ cũng không còn gì để tích lũy; không còn gì để buông cũng không còn gì để nắm; không còn lưới để gỡ cũng không còn lưới để mắc; không còn gì để làm tan cũng không còn gì bị che mờ.

Và vị ấy không còn gì để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ — đó là những gì?

Vị ấy không còn sắc để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ sắc.

Vị ấy không còn thọ để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ thọ.

Vị ấy không còn tưởng để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ tưởng.

Vị ấy không còn các hành để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ các hành.

Vị ấy không còn thức để tích lũy, mà an trú sau khi đã từ bỏ thức.

Và vị ấy không còn gì để nắm, mà an trú sau khi đã buông — đó là những gì?

Vị ấy không còn sắc để nắm, mà an trú sau khi đã buông sắc.

Vị ấy không còn thọ để nắm, mà an trú sau khi đã buông thọ.

Vị ấy không còn tưởng để nắm, mà an trú sau khi đã buông tưởng.

Vị ấy không còn các hành để nắm, mà an trú sau khi đã buông các hành.

Vị ấy không còn thức để nắm, mà an trú sau khi đã buông thức.

Và vị ấy không còn lưới để mắc, mà an trú sau khi đã gỡ lưới — đó là những gì?

Vị ấy không còn sắc để mắc lưới, mà an trú sau khi đã gỡ lưới nơi sắc.

Vị ấy không còn thọ để mắc lưới, mà an trú sau khi đã gỡ lưới nơi thọ.

Vị ấy không còn tưởng để mắc lưới, mà an trú sau khi đã gỡ lưới nơi tưởng.

Vị ấy không còn các hành để mắc lưới, mà an trú sau khi đã gỡ lưới nơi các hành.

Vị ấy không còn thức để mắc lưới, mà an trú sau khi đã gỡ lưới nơi thức.

Và vị ấy không còn gì để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan — đó là những gì?

Vị ấy không còn sắc để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan sắc.

Vị ấy không còn thọ để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan thọ.

Vị ấy không còn tưởng để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan tưởng.

Vị ấy không còn các hành để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan các hành.

Vị ấy không còn thức để bị che mờ, mà an trú sau khi đã làm tan thức.

Khi tâm của vị tỳ-kheo ấy được giải thoát như vậy, này các tỳ-kheo, chư thiên cùng với Đế Thích, với Phạm thiên và Phạm chủ đảnh lễ và nói rằng:

'Đảnh lễ Ngài, bậc thuần chủng!

Đảnh lễ Ngài, bậc tối thượng trong loài người!

Chúng tôi không hiểu nổi

nền tảng của định mà Ngài an trú.'"

Kinh Bị Gặm Nhấm, bài thứ bảy, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →