Tương Ưng Bộ · SN 56.57
Kinh Biển Lớn (1)
Paṭhamamahāsamuddasutta — bài kinh ví hai ba giọt nước biển
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Biển Lớn (1) (Paṭhamamahāsamuddasutta) đổi vật so sánh sang nước: một người múc từ biển lớn lên hai ba giọt.
Câu hỏi đã thành khuôn: hai ba giọt ấy với cả biển, cái nào nhiều hơn? Và câu trả lời, mỗi lần, đều đặt bốn sự thật vào chỗ của cái biển.
Bài này và bài sau là một cặp — biển còn nước, rồi biển khô cạn.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.
Phẩm Thấu Suốt (Abhisamayavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Tứ Đế.
Kinh Biển Lớn (1) (Paṭhamamahāsamuddasutta) — bài thứ bảy.
"Này các tỳ-kheo, ví như có người múc lên từ biển lớn hai hay ba giọt nước.
Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào,
cái nào nhiều hơn — hai hay ba giọt nước múc lên ấy, hay nước trong biển lớn?"
"Cái này nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là nước trong biển lớn; hai hay ba giọt nước múc lên thật chẳng đáng kể.
Hai hay ba giọt nước ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh nước trong biển lớn."
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với một vị đã thấy bốn sự thật, khối khổ đã được chấm dứt, đã được tiêu hết thì nhiều hơn; phần còn lại thì chẳng đáng kể. Khối khổ ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh khối khổ trước kia đã được chấm dứt, đã được tiêu hết — phần còn lại chỉ là tối đa bảy lần sinh nữa.
Đó là với người hiểu như thật: "Đây là khổ"; hiểu như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hiểu như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hiểu như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ". Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."
Kinh Kinh Biển Lớn (1), bài thứ bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.