buppou

Tương Ưng Bộ · SN 56.56

Kinh Trái Đất Lớn (2)

Dutiyamahāpathavīsutta — bài kinh ví bảy viên đất còn lại

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Trái Đất Lớn (2) (Dutiyamahāpathavīsutta) lật ngược bài trước: trái đất bị bào mòn hết, chỉ còn lại bảy viên đất sét nhỏ bằng hạt táo ta.

Cùng một lập luận, cùng một kết luận — chỉ khác chỗ đứng của người nói. Đây là bài thứ sáu trong một dãy mười bài mà mỗi bài chỉ đổi vật so sánh. Đọc riêng lẻ thì nhàm; đọc liền một mạch thì thấy đó là một cách dạy bằng cách lặp: cho người nghe thấy đi thấy lại cùng một điều, từ nhiều hướng, cho đến khi nó thành chỗ đứng của mình.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Tứ Đế (Saccasaṃyutta), tương ưng thứ 56.

Phẩm Thấu Suốt (Abhisamayavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Tứ Đế.

Kinh Trái Đất Lớn (2) (Dutiyamahāpathavīsutta) — bài thứ sáu.


"Này các tỳ-kheo, ví như trái đất lớn bị bào mòn, tiêu hết, chỉ còn lại bảy viên đất sét nhỏ bằng hạt táo ta.

Này các tỳ-kheo, các ông nghĩ thế nào,

cái nào nhiều hơn — phần trái đất lớn đã bị bào mòn, đã tiêu hết, hay bảy viên đất sét nhỏ bằng hạt táo ta còn lại?"

"Cái này nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là phần trái đất lớn đã bị bào mòn, đã tiêu hết; bảy viên đất sét nhỏ bằng hạt táo ta còn lại thật chẳng đáng kể.

Bảy viên đất sét ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh phần trái đất lớn đã bị bào mòn, đã tiêu hết."

Cũng vậy, này các tỳ-kheo, với một vị đã thấy bốn sự thật, khối khổ đã được chấm dứt, đã được tiêu hết thì nhiều hơn; phần còn lại thì chẳng đáng kể. Khối khổ ấy không đếm được, không so được, không tính được một phần nhỏ nào khi đặt bên cạnh khối khổ trước kia đã được chấm dứt, đã được tiêu hết — phần còn lại chỉ là tối đa bảy lần sinh nữa.

Đó là với người hiểu như thật: "Đây là khổ"; hiểu như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hiểu như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hiểu như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ". Vậy nên, này các tỳ-kheo, hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là nguồn gốc của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là sự chấm dứt của khổ"; hãy nỗ lực để biết như thật: "Đây là con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của khổ"."

Kinh Kinh Trái Đất Lớn (2), bài thứ sáu, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →