buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.33

Kinh Các Pháp Có Tính Sinh

Jātidhammādisuttadasaka — bài thứ ba mươi ba

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Các Pháp Có Tính Sinh (Jātidhammāsutta) mở đầu phẩm thứ tư của Tương Ưng Sáu Xứ, và nó mở bằng một câu nghe như một định nghĩa:

tất cả, này các tỳ-kheo, đều có tính sinh.

Chữ jātidhamma không nói "đã sinh". Nó nói có tính sinh — mang sẵn cái khuynh hướng ấy trong mình, như củi mang sẵn lửa.

Rồi kinh hỏi: cái "tất cả" ấy là gì? Và câu trả lời vẫn là sáu cặp quen thuộc — mắt và các sắc, tai và các tiếng, cho đến ý và các pháp. Nhưng lần này mỗi món được gọi bằng một tên khác: pháp có tính sinh.

Điều đáng chú ý là kinh không dừng ở sáu cửa. Nó đi tiếp xuống: nhãn thức cũng có tính sinh, nhãn xúc cũng có tính sinh, và cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cũng có tính sinh.

Nghĩa là cái đang sinh không chỉ là cái được thấy; nó còn là cái đang thấy, và cả cái đang cảm nhận về cái đang thấy. Cả ba lớp đều nằm trong cùng một dòng.

Và cái kết thì quen: nhàm chán, ly tham, giải thoát. Nhưng lần này nó đến từ một chỗ khác — không phải vì sáu cửa là xấu, mà vì cái gì có tính sinh thì rồi sẽ sinh. Không cần ai đẩy nó.

Một bài ngắn, nhưng nó đặt cái khung cho cả chín bài sau: mỗi bài sẽ thay đúng một chữ vào chỗ jāti.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Có Tính Sinh (Jātidhammavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Các Pháp Có Tính Sinh (Jātidhammādisuttadasaka) — bài thứ ba mươi ba.


Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong rừng Jeta (Kỳ-đà), tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).

Tại đấy, Đức Thế Tôn bảo các tỳ-kheo:

"Tất cả, này các tỳ-kheo, đều có tính sinh.

Cái gì, này các tỳ-kheo, là tất cả có tính sinh?

Mắt, này các tỳ-kheo, có tính sinh.

Các sắc có tính sinh.

Nhãn thức có tính sinh.

Nhãn xúc có tính sinh.

Cảm thọ do nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh. Tai, này các tỳ-kheo, có tính sinh; các tiếng có tính sinh; nhĩ thức có tính sinh; nhĩ xúc có tính sinh; cảm thọ do nhĩ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh. Mũi, này các tỳ-kheo, có tính sinh; các mùi có tính sinh; tỷ thức có tính sinh; tỷ xúc có tính sinh; cảm thọ do tỷ xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh.

Lưỡi, này các tỳ-kheo, có tính sinh.

Các vị có tính sinh.

Thiệt thức có tính sinh.

Thiệt xúc có tính sinh.

Cảm thọ do thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh.

Thân, này các tỳ-kheo, có tính sinh; các vật chạm có tính sinh; thân thức có tính sinh; thân xúc có tính sinh; cảm thọ do thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh.

Ý có tính sinh, này các tỳ-kheo; các pháp có tính sinh; ý thức có tính sinh; ý xúc có tính sinh.

Cảm thọ do ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng có tính sinh.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với nhĩ thức, nhàm chán đối với nhĩ xúc, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với tỷ thức, nhàm chán đối với tỷ xúc, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với thiệt thức, nhàm chán đối với thiệt xúc, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với thân thức, nhàm chán đối với thân xúc, nhàm chán đối với ý, nhàm chán đối với các pháp, nhàm chán đối với ý thức, nhàm chán đối với ý xúc. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'

Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.'"

Bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →