buppou

Tương Ưng Bộ · SN 25.002

Kinh Các Sắc

Rūpasutta — bài thứ hai

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai đổi danh sách sang sáu trần, và ở đây có một khác biệt nhỏ mà người đọc nên để ý.

Này các tỳ-kheo, các sắc vô thường, biến đổi, đổi khác; các âm thanh vô thường, biến đổi, đổi khác.

Trong bản Pali, sáu căn ở bài một được mô tả theo ba từ ghép ba dạng khác nhau — aniccaṁ vipariṇāmi aññathābhāvi cho số ít, aniccā vipariṇāmī aññathābhāvī cho số nhiều. Đó là sự hòa hợp ngữ pháp, không phải sự khác biệt về ý.

Nhưng cũng vì thế mà bản dịch phải giữ đúng cái nhịp ấy: cùng một cụm từ lặp sáu lần, chỉ đổi mục.

Và ba hạng người vẫn y nguyên, cùng với hai điều không thể làm được. Cái khung ấy bền như vậy là có lý do: mười bài này là mười lần nói cùng một chuyện, để người nghe không còn chỗ nào để nói cái đó thì khác.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhập (Okkantasaṃyutta), tương ưng thứ 25.

Phẩm Con Mắt (Cakkhuvagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Nhập.

Kinh Các Sắc (Rūpasutta) — bài thứ hai.


"Tại Sāvatthī.

các sắc vô thường, biến đổi, đổi khác;

Này các tỳ-kheo, các âm thanh vô thường, biến đổi, đổi khác;

Này các tỳ-kheo, các mùi vô thường, biến đổi, đổi khác;

Này các tỳ-kheo, các vị vô thường, biến đổi, đổi khác;

Này các tỳ-kheo, các vật xúc chạm vô thường, biến đổi, đổi khác;

Này các tỳ-kheo, các pháp vô thường, biến đổi, đổi khác.

Này các tỳ-kheo, ai tin tưởng, chấp nhận các pháp ấy như vậy, vị ấy được gọi là bậc tùy tín hành, đã bước vào chánh tánh quyết định, đã bước vào địa vị của bậc chân nhân;

vị ấy không có khả năng làm nghiệp ấy — nghiệp mà khi đã làm thì phải sinh vào địa ngục, loài bàng sinh, hay cõi ngạ quỷ;

và vị ấy không có khả năng chết trước khi chứng được quả Dự lưu.

Này các tỳ-kheo, đối với ai các pháp ấy được chấp nhận nhờ trí tuệ suy xét một phần, vị ấy được gọi là bậc tùy pháp hành, đã bước vào chánh tánh quyết định, đã bước vào địa vị của bậc chân nhân;

vị ấy không có khả năng làm nghiệp ấy — nghiệp mà khi đã làm thì phải sinh vào địa ngục, loài bàng sinh, hay cõi ngạ quỷ;

và vị ấy không có khả năng chết trước khi chứng được quả Dự lưu.

Này các tỳ-kheo, ai hiểu như vậy, thấy như vậy đối với các pháp ấy, vị ấy được gọi là bậc Dự lưu, không còn phải đi vào đường dữ, đã quyết định, hướng đến giác ngộ."

Bài thứ hai.

Phẩm Con Mắt là phẩm thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →