buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.2

Kinh Các Sắc

Rūpasutta — bài thứ hai

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai bỏ chữ mắt và đặt vào chỗ ấy sáu đối tượng của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, các sắc là thường hay vô thường?

Một sự đổi chỗ rất nhỏ mà làm nên một bài kinh khác. Bài trước hỏi về cái biết; bài này hỏi về cái được biết. Cùng một bộ ba câu hỏi, cùng một kết luận.

Cách sắp xếp này là cách sắp xếp của một người dạy học có kế hoạch. Mỗi bài chỉ đổi một chỗ, và chỗ được đổi là chỗ mà người học vừa mới quen. Nhờ vậy mà người học không bị lạc: mọi thứ khác vẫn đứng yên.

Và cũng nhờ vậy mà người đọc thấy được điều mà một bài kinh dài không làm được: rằng vô thường không phải một thuộc tính của riêng thứ gì. Nó là một cách nói về tất cả những gì có mặt.

Bài này khép bằng câu quen thuộc: nhàm chán, ly tham, giải thoát, và biết rõ mình đã giải thoát. Chỉ có đối tượng nhàm chán là khác. Đó là toàn bộ bài.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Các Sắc (Rūpasutta) — bài thứ hai.


"Tại Sāvatthī.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

các sắc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các thanh là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các hương là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các vị là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các xúc là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

các pháp là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các thanh, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp;

do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →