buppou

Tương Ưng Bộ · SN 18.1

Kinh Con Mắt

Cakkhusutta — bài thứ một

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Tương Ưng Rāhula có hai mươi hai bài, và gần như tất cả đều là cùng một câu hỏi, hỏi hai mươi lần về hai mươi thứ khác nhau.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào, con mắt là thường hay vô thường?

Người được hỏi là con trai của Đức Thế Tôn. Chi tiết ấy không phải một giai thoại gia đình; nó là toàn bộ khung của tương ưng này. Một người cha đang dạy con trai mình cách nhìn, và cách dạy là hỏi.

Bài đầu mở bằng một lời thỉnh cầu rất ngắn: xin dạy con pháp một cách vắn tắt, để con sống một mình, xa lánh, không phóng dật. Câu trả lời không phải một bài giảng vắn tắt, mà là một chuỗi câu hỏi mà Rāhula phải tự trả lời.

Đó là chỗ đáng chú ý của cả tương ưng. Đức Thế Tôn không nói con mắt là vô thường. Ngài hỏi, và chờ. Và khi Rāhula trả lời, câu trả lời ấy trở thành chỗ đứng cho câu hỏi tiếp theo.

Thường hay vô thường là câu hỏi đầu tiên trong ba câu. Câu thứ hai hỏi điều ấy là khổ hay lạc. Câu thứ ba hỏi có hợp lý chăng khi xem nó là của ta, là ta, là tự ngã của ta. Ba câu, và mỗi câu chỉ mở ra khi câu trước đã được trả lời.

Rồi bài kinh đi qua năm thứ còn lại — tai, mũi, lưỡi, thân, ý — với cùng ba câu ấy. Đến cuối, Rāhula không được trao một kết luận. Cậu được trao một cách nhìn, và một lời mô tả về điều xảy ra sau đó.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rāhula (Rāhulasaṃyutta), tương ưng thứ 18.

Phẩm Thứ Nhất (Paṭhamavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rāhula.

Kinh Con Mắt (Cakkhusutta) — bài thứ một.


"Tôi nghe như vầy.

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jetavana, tại tịnh xá của ông Anāthapiṇḍika.

Rồi tôn giả Rāhula đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tôn giả Rāhula bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, lành thay, xin Đức Thế Tôn giảng cho con pháp một cách vắn tắt; con nghe pháp của Đức Thế Tôn rồi sẽ sống một mình, xa lánh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Này Rāhula, ông nghĩ thế nào,

con mắt là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy:

Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta?

Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

tai là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

mũi là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

lưỡi là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

thân là thường hay vô thường?

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc? — Khổ, bạch Đức Thế Tôn. — Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy: Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta? — Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

ý là thường hay vô thường? — Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Vô thường, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, là khổ hay là lạc?

Khổ, bạch Đức Thế Tôn.

Cái gì vô thường, khổ, có bản chất biến đổi, thì có hợp lý chăng khi xem xét nó như vầy:

Đây là của ta, đây là ta, đây là tự ngã của ta?

Không phải vậy, bạch Đức Thế Tôn.

Này Rāhula, bậc đa văn thánh đệ tử thấy như vậy thì nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý;

do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát. Khi được giải thoát, vị ấy biết rõ: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa.

[Chú thích: Theo cách lặp này, có mười bài kinh.]"

Bài thứ một.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →